Chương 1. Cơ sở lý luận, pháp lý về quyền của phụ nữ và trẻ em trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân. Thực trạng quyền của phụ nữ và trẻ em trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk. Giải pháp bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk.
CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM TRONG GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. Khái niệm, ý nghĩa quyền của phụ nữ và trẻ em trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân 1. Khái niệm quyền của phụ nữ và trẻ em trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình tại Toà án nhân dân Khái niệm phụ nữ và trẻ em Phụ nữ là một thuật ngữ để chỉ các con người nữ giới, có đặc điểm sinh lý và tâm lý khác biệt so với nam giới. Điều này thường được xác định bởi những đặc trưng sinh lý như có bộ phận sinh dục nữ và khả năng mang thai, sinh sản, cùng với các đặc điểm tâm lý như tình mẫu tử, quan tâm đến gia đình và trách nhiệm xã hội.
Tuy nhiên, giới tính và vai trò xã hội của phụ nữ có thể khác nhau trong các văn hóa và lịch sử khác nhau trên thế giới. Thời gian gần đây, từ điển tiếng Việt đã bổ sung cập nhật định nghĩa mới về “phụ nữ”, bên cạnh các định nghĩa cũ. Nguyên văn của dòng khái niệm mới này là: “Phụ nữ là một người trưởng thành đang sống như phụ nữ và xác định mình là nữ giới cho dù lúc sinh ra họ được cho là mang giới tính khác” [38]. Trên thế giới, theo Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do, được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 14/12/1992 quy định: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi” [16].
Vậy khái niệm người chưa thành niên và trẻ em đồng nhất với nhau về độ tuổi. Điều 1 của Công ước quốc tế về quyền trẻ em cũng quy định “trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Khái niệm "trẻ em" ở Việt Nam thường được sử dụng để chỉ các con 8 người ở độ tuổi dưới 16 tuổi, tuy nhiên đôi khi phân loại độ tuổi trẻ em có thể khác nhau tùy vào từng quốc gia và văn hóa. Khái niệm trẻ em và độ tuổi của trẻ em quy định khác nhau, không có sự thống nhất, rõ ràng, thậm chí còn chồng chéo nhau trong hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam.
Khái niệm người chưa thành niên cũng được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, tồn tại cả hai khái niệm là khái niệm trẻ em và người chưa thành niên. Hiện nay, theo Luật Trẻ em của Việt Nam năm 2016, Trẻ em là người dưới 16 tuổi (Điều 1). Như vậy trong phạm vi luận văn nay, tác giả nhận thức trẻ em là người dưới 16 tuổi. Khái niệm quyền của phụ nữ và trẻ em Theo từ điển tiếng Việt, quyền được hiểu là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho họ được hưởng, được làm, được đòi hỏi [19].
Chiếm hơn một nửa trong xã hội nhưng phụ nữ lại là đối tượng dễ bị tổn thương và chịu nhiều thiệt thòi nhất. Phụ nữ luôn bị thiệt thòi nhiều nhất về sức khỏe, giáo dục, đào tạo, cơ hội việc làm và những nhu cầu khác, vì thế quyền của phụ nữ luôn được quan tâm. Khi xã hội phát triển, quyền của phụ nữ là một bộ phận tất yếu của quyền con người. Phụ nữ có đầy đủ các quyền con người như quyền được sống, quyền tự do, quyền bình đẳng với nam giới.
Trong cuốn Bách khoa toàn thư thế giới về phụ nữ: Những vấn đề và tri thức toàn cầu về phụ nữ được xuất bản năm 2000, tập thể nhóm tác giả Charlotte Bunch và Samantha Frost trong phần viết “Giới thiệu về các quyền con người của phụ nữ” đã chỉ ra: “Quyền con người của phụ nữ là một thuật ngữ để chỉ các quyền của phụ nữ với tư cách là một con người và được xem xét thông qua lăng kính giới. Theo đó, quyền con người của phụ nữ được xem là tất cả các quyền con người mà nhân loại tiến bộ thừa nhận và có thêm những quyền mang đặc thù giới nữ” [39]. Người phụ nữ với những đặc điểm gắn liền với giới tính tự nhiên thì ngoài quyền con người nói chung, họ còn có những quyền gắn liền với thiên 9 chức của mình như quyền làm mẹ, quyền được bảo vệ với tư cách là nhóm người dễ bị tổn thương. Tiếp cận theo hướng này (nghĩa hẹp), quyền phụ nữ bao gồm quyền bình đẳng (bảo đảm ngang quyền và cơ hội so với nam giới) và quyền ưu tiên (tạo điều kiện thuận lợi hơn so với nam giới do đặc điểm giới tính tự nhiên và do thuộc nhóm dễ bị tổn thương).
Trong lĩnh vực HN&GĐ, có thể hiểu, quyền của người phụ nữ là quyền bình đẳng, có cơ hội hưởng các quyền ngang nhau với nam giới trong mối quan hệ giữa vợ, chồng và giữa các thành viên trong gia đình trên cơ sở nguyên tắc dân chủ, công bằng, tôn trọng lẫn nhau trong các mối quan hệ ở phạm vi gia đình, xã hội và quyền ưu tiên tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ thể hiện khả năng của mình với việc đóng góp công sức và thụ hưởng thành quả trong cuộc sống gia đình, xã hội. Các quyền của phụ nữ trong HN&GĐ được tôn trọng, được bảo vệ và bảo đảm thực hiện bằng hệ thống các quy định của pháp luật về HN&GĐ. Từ những phân tích trên có thể hiểu, quyền của phụ nữ là tập hợp những khả năng pháp luật mỗi quốc gia công nhận cho người phụ nữ được hưởng, được làm và được đòi hỏi. Việc hiểu rõ những quyền này nhằm ngăn chặn tình trạng bất bình đẳng giới trong mỗi chúng ta.
Khái niệm "quyền trẻ em" là một khái niệm phức tạp và rộng lớn, bao gồm các quyền cơ bản và quan trọng nhất của trẻ em trong đời sống và phát triển của mình. Đây là một khái niệm đặc biệt quan trọng và được nhiều tổ chức và chính phủ trên toàn thế giới quan tâm đến và bảo vệ. Quyền trẻ em cũng là một nhóm quyền nằm trong nhóm quyền của con người. Trẻ em là đối tượng đặc biệt và dễ bị tổn thương.
Quyền trẻ em là những quyền con người được áp dụng dành riêng cho trẻ em, ở mỗi độ tuổi khác nhau thì trẻ em được hưởng quyền và nghĩa vụ khác nhau. Việc xem xét quy định và thực hiện quyền trẻ em phải xuất phát từ quan điểm của trẻ em, vì vậy quyền trẻ em là những đặc lợi mà trẻ em được hưởng theo quy định của pháp luật. 10 Như vậy có thể hiểu, quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có để được sống và lớn lên một cách lành mạnh và an toàn. Quyền trẻ em nhằm bảo đảm cho trẻ em không chỉ là người tiếp nhận thụ động lòng nhân từ của người lớn, mà các em là những thành viên tham gia tích cực vào quá trình phát triển của chính mình.
Quyền trẻ em là một bộ phận không thể thiếu của quyền con người. Khái niệm quyền của phụ nữ và trẻ em trong giải quyết vụ việc HN&GĐ tại TAND Nghiên cứu vụ việc HN&GĐ phải đi từ vụ việc dân sự. Đây là hai khái niệm khác nhau nhưng thường đi cùng nhau nên rất dễ nhầm lẫn. Theo pháp luật dân sự, vụ án dân sự là việc giải quyết tranh chấp về các vấn đề dân sự giữa cá nhân, tổ chức này với cá nhân, tổ chức khác; có nguyên đơn và bị đơn; Tòa án giải quyết trên cơ sở bảo vệ quyền lợi của người có quyền và buộc người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ.
Bản chất của vụ án dân sự là có tranh chấp xảy ra. Việc dân sự là việc riêng của cá nhân, tổ chức, không có nguyên đơn, bị đơn mà chỉ có người yêu cầu Tòa án giải quyết, từ yêu cầu của đương sự, Tòa án công nhận quyền và nghĩa vụ cho họ. Bản chất của việc dân sự là không có tranh chấp xảy ra. Vụ việc HN&GĐ là một mảng, một lĩnh vực của pháp luật dân sự.
Vụ việc HN&GĐ là những vấn đề pháp lý liên quan đến các mối quan hệ gia đình, tiêu biểu như hôn nhân, giám hộ con cái, chăm sóc người già, chia tài sản và quyền nuôi con… Các vụ việc HN&GĐ có thể làm nảy sinh những xung đột giữa các thành viên trong gia đình, gây ra sự mất mát về tài sản và đôi khi làm suy yếu tình cảm giữa các bên liên quan. Vụ việc này thường đòi hỏi sự can thiệp của pháp luật để giải quyết các tranh chấp, tìm kiếm sự công bằng và bảo vệ quyền lợi của các bên. Việc bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em trong các vụ việc HN&GĐ rất 11 quan trọng vì họ thường là những bên yếu đuối và dễ bị tổn thương trong các mối quan hệ gia đình. Bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em trong các vụ việc HN&GĐ là cần thiết để đảm bảo sự công bằng và bình đẳng trong các mối quan hệ gia đình, bảo vệ những người yếu đuối khỏi bạo lực và lạm dụng và đảm bảo an toàn và sự phát triển của trẻ em.
Nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một xã hội văn minh, trách nhiệm và đầy đủ nhân quyền. Theo Bộ luật dân sự (BLDS) 2015, có hai nhóm vụ việc HN&GĐ thuộc thẩm quyền của TAND: Những tranh chấp về HN&GĐ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (Điều 28), gồm 8 trường hợp, ví dụ như ly hôn; những yêu cầu về HN&GĐ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (Điều 29), gồm 11 trường hợp, ví dụ như yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.