Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tố cáo là phương thức quan trọng giúp công dân trực tiếp tham gia quản lý nhà nước, thực hiện quyền làm chủ và giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực thi công vụ. Hoạt động này gắn liền với chủ trương cải cách tư pháp được thể chế hóa tại Nghị quyết số 49/NQ-TW (2005) của Bộ Chính trị. Quyền tố cáo là quyền hiến định được ghi nhận tại Điều 30 Hiến pháp năm 2013 và được luật hóa cụ thể thông qua Luật Tố cáo năm 2011 (Luật số 03/2011/QH13), sau đó được thay thế toàn diện bởi Luật Tố cáo năm 2018 (Luật số 25/2018/QH14).

Tuy nhiên, tố cáo là hành vi pháp lý mang tính chất nhạy cảm, người tố cáo thường phải đối mặt với nhiều rủi ro về vị trí việc làm, sức khỏe, tài sản và tính mạng. Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy cơ chế bảo vệ danh tính, bí mật thông tin của người tố cáo còn bộc lộ lỗ hổng; đồng thời xuất hiện tình trạng lợi dụng quyền tố cáo để vu khống, tố cáo sai sự thật kéo dài, gây lãng phí nguồn lực công. Trước yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quyền của người tố cáo, tác giả Trần Cẩm Nhung đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật với đề tài "Quyền của người tố cáo" dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Việt Sơn tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể theo hai nhiệm vụ chính:

  1. Thứ nhất, phân tích làm sáng tỏ các vấn đề lý luận xoay quanh quyền của người tố cáo nhằm tạo tiền đề cho việc nghiên cứu, làm rõ các quy định pháp luật hiện hành.
  2. Thứ hai, nhận diện những bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về quyền của người tố cáo, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật, bảo đảm tính dân chủ và tiến bộ của chế định tố cáo.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh quyền của người tố cáo trong lĩnh vực hành chính, các quan hệ pháp luật phát sinh trong quá trình thực hiện quyền và thực trạng áp dụng trên thực tế. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào khoản 1 Điều 9 Luật Tố cáo năm 2018, các điều khoản liên quan trong Luật Tố cáo năm 2018, Nghị định số 31/2019/NĐ-CP, Hiến pháp năm 2013, Luật Tố tụng hành chính, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015, cùng các báo cáo kết quả công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo thực tế tại các địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và pháp lý của đề tài được xây dựng trên nền tảng Hiến pháp năm 2013 (Điều 14 về quyền con người, quyền công dân; Điều 15 về mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ; Điều 30 về quyền khiếu nại, tố cáo), Luật Tố cáo năm 2018 và Nghị định số 31/2019/NĐ-CP hướng dẫn thi hành. Tác giả đã tổng hợp các định nghĩa về quyền và tố cáo từ Từ điển tiếng Việt, Từ điển Luật học (Viện Khoa học pháp lý, 2006) và Giáo trình Pháp luật Thanh tra, khiếu nại và tố cáo của Trường Đại học Luật TP.HCM để đưa ra định nghĩa khoa học pháp lý: "Quyền của người tố cáo là những lợi ích mà pháp luật công nhận và cho phép người tố cáo được hưởng, được thực hiện phát sinh kể từ khi cá nhân thực hiện hành động tố cáo".

Khóa luận vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Áp dụng để mổ xẻ cấu trúc pháp lý của từng quyền cụ thể quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Tố cáo năm 2018 (quyền thực hiện tố cáo, quyền bảo đảm bí mật thông tin, quyền yêu cầu bảo vệ, quyền được thông báo, quyền tố cáo tiếp, quyền rút tố cáo, quyền khen thưởng và bồi thường thiệt hại).
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu các quy định giữa Luật Tố cáo năm 2011 và Luật Tố cáo năm 2018, đối chiếu giữa Luật Tố cáo năm 2018 với Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm làm rõ sự phát triển lập pháp cũng như các xung đột pháp lý tiềm ẩn.
  • Phương pháp thống kê và phân tích tình huống thực tiễn: Sử dụng số liệu điều tra xã hội học từ Báo cáo Phong vũ biểu Tham nhũng năm 2019 của Tổ chức Hướng tới Minh bạch (Towards Transparency - TT), các báo cáo ngành thanh tra và hai vụ việc điển hình tại Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Hà Nội và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về quyền của người tố cáo

Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận và phân tích chi tiết các quy định pháp luật thực định về quyền của người tố cáo, bao gồm các nội dung cốt lõi:

  1. Khái niệm và bốn đặc điểm cơ bản của quyền người tố cáo:

    • Được pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện trong quá trình giải quyết tố cáo; chỉ bị hạn chế theo luật định trong trường hợp thật cần thiết vì an ninh quốc gia, trật tự xã hội (khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013).
    • Là những lợi ích phát sinh trực tiếp kể từ thời điểm cá nhân xác lập hành vi tố cáo với cơ quan có thẩm quyền.
    • Luôn tồn tại song song và không tách rời nghĩa vụ của người tố cáo (nghĩa vụ trung thực, cung cấp tài liệu, chịu trách nhiệm trước pháp luật).
    • Được đặt trong mối quan hệ tương hỗ và cân bằng với quyền, trách nhiệm của người bị tố cáo và người có thẩm quyền giải quyết tố cáo.
  2. Ý nghĩa của việc bảo đảm quyền người tố cáo:

    • Đối với người tố cáo: Là điều kiện cần để thực hiện quyền chính trị và quyền tham gia quản lý nhà nước; thiết lập cơ chế tự bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, vị trí công tác; tiết kiệm chi phí, thời gian trong quá trình theo đuổi việc vạch trần sai phạm.
    • Đối với người bị tố cáo: Tạo hành lang pháp lý ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền của người tố cáo, đồng thời bảo vệ người bị tố cáo trước nguy cơ bị vu khống, bôi nhọ do các động cơ cá nhân không lành mạnh.
    • Đối với cơ quan có thẩm quyền: Nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước, tối ưu hóa quy trình giải quyết, ngăn chặn thiệt hại cho ngân sách và lợi ích công cộng.
  3. Hệ thống quy định pháp luật thực định (khoản 1 Điều 9 Luật Tố cáo năm 2018):

    • Quyền thực hiện tố cáo: Chủ thể tố cáo được giới hạn là cá nhân (không bao gồm cơ quan, tổ chức nhằm đảm bảo tính thống nhất về mặt trách nhiệm pháp lý và tránh mượn danh), thực hiện qua hai hình thức là bằng đơn hoặc tố cáo trực tiếp (Điều 22). Không cho phép ủy quyền thực hiện quyền tố cáo.
    • Quyền được bảo đảm bí mật thông tin và yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ: Kế thừa và phát triển Chương VI Luật Tố cáo năm 2018 (tăng từ 7 điều ở Luật năm 2011 lên 12 điều), quy định 3 nhóm biện pháp bảo vệ: bí mật thông tin cá nhân (Điều 56); vị trí công tác, việc làm (Điều 57); tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm (Điều 58).
    • Quyền được thông báo về quá trình và kết quả giải quyết: Chuyển từ trạng thái bị động "có quyền yêu cầu thông báo" (Luật năm 2011) sang quyền đương nhiên "được thông báo" (Luật năm 2018) về thụ lý, gia hạn, tạm đình chỉ, đình chỉ và kết luận nội dung tố cáo.
    • Quyền tố cáo tiếp và rút tố cáo: Xác định rõ căn cứ tố cáo tiếp khi việc giải quyết không đúng pháp luật (Điều 37) hoặc quá thời hạn quy định (Điều 38); đồng thời ghi nhận quyền rút toàn bộ hoặc một phần tố cáo (Điều 33).
    • Quyền khen thưởng và bồi thường thiệt hại: Ghi nhận quyền được phục hồi quyền lợi hợp pháp và bồi thường nếu bị thiệt hại do hành vi trù dập, trả thù.

Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền của người tố cáo

Chương 2 đi sâu đánh giá thực tiễn thi hành, chỉ ra các khoảng trống pháp lý qua các vụ việc cụ thể và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện:

Nhóm vấn đề Quy định hiện hành Bất cập, khoảng trống thực tiễn
Hình thức tố cáo Điều 22 Luật Tố cáo năm 2018 chỉ công nhận tố cáo bằng đơn và tố cáo trực tiếp. Không thừa nhận hình thức tố cáo qua thư điện tử (email), fax, điện thoại, bưu điện; chưa phù hợp với xu thế chuyển đổi số và tinh thần tiếp nhận tại khoản 2 Điều 30 Hiến pháp năm 2013.
Năng lực hành vi của chủ thể Điểm b khoản 1 Điều 29 Luật Tố cáo năm 2018 cho phép người không đủ năng lực hành vi tố cáo qua người đại diện. Chưa giải thích rõ khái niệm; áp dụng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 dẫn đến nguy cơ người mất năng lực hành vi bị người đại diện dẫn dắt ý chí; chưa rõ trách nhiệm bồi thường khi tố cáo sai.
Căn cứ áp dụng biện pháp bảo vệ Khoản 3 Điều 47 Luật Tố cáo năm 2018 sử dụng cụm từ "khi có căn cứ". Mang tính định tính, chưa có tiêu chí định lượng mức độ nguy hiểm; dẫn đến tình trạng cơ quan áp dụng chậm trễ hoặc áp dụng không cần thiết gây tốn kém ngân sách.
Chế tài lộ thông tin người tố cáo Điều 22 Nghị định số 31/2019/NĐ-CP chỉ xử lý kỷ luật đối với người có thẩm quyền giải quyết tố cáo. Bỏ lọt trách nhiệm của các chủ thể trung gian (cán bộ tiếp dân, người chuyển đơn, cán bộ xác minh). Thực tế tại Sở VHTTDL Hà Nội, Phó Giám đốc ký chuyển đơn làm lộ danh tính người tố cáo chỉ bị kiểm điểm rút kinh nghiệm do không thuộc diện bị kỷ luật theo Nghị định 31.
Cơ chế phối hợp bảo vệ Điều 49 Luật Tố cáo năm 2018 phân công nhiều cơ quan phối hợp bảo vệ. Quy định mang tính hình thức, thiếu chế tài và trách nhiệm ràng buộc cụ thể khi các cơ quan (Công an, UBND, cơ quan quản lý) phối hợp không hiệu quả.
Xử lý lạm dụng quyền tố cáo tiếp Điều 23 Nghị định số 31/2019/NĐ-CP chỉ chế tài cán bộ, công chức, viên chức có hành vi tố cáo sai sự thật nhiều lần. Thiếu chế tài hành chính đối với công dân thông thường cố tình tố cáo sai sự thật nhiều lần dù vụ việc đã được giải quyết đúng luật (điển hình vụ việc khiếu kiện kéo dài tại Gia Lai).
Hệ quả pháp lý khi rút tố cáo Khoản 2 Điều 33 Luật Tố cáo năm 2018 quy định người rút tố cáo không được hưởng quyền và không phải thực hiện nghĩa vụ. Câu chữ dễ gây hiểu lầm rằng rút đơn thì đương nhiên miễn trừ toàn bộ nghĩa vụ pháp lý, kể cả trách nhiệm bồi thường hoặc trách nhiệm với nội dung đã tố cáo sai trước đó.

Từ các phân tích trên, khóa luận xác định 4 phương hướng hoàn thiện: (1) Quán triệt chủ trương của Đảng về phòng chống tham nhũng, lãng phí; (2) Bảo đảm tính tương xứng giữa quyền và nghĩa vụ; (3) Bảo đảm tính hợp hiến, thống nhất với Hiến pháp năm 2013; (4) Xuất phát từ tổng kết thực tiễn áp dụng.

Tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp:

  • Về mặt lập pháp: Sửa đổi Điều 22 Luật Tố cáo năm 2018 theo hướng công nhận thêm các hình thức tố cáo điện tử (email, cổng thông tin trực tuyến có định danh điện tử); ban hành văn bản hướng dẫn định lượng tiêu chí "có căn cứ" tại Điều 47; bổ sung chế tài xử lý kỷ luật và xử phạt vi phạm hành chính đối với mọi chủ thể làm lộ bí mật người tố cáo tại Nghị định số 31/2019/NĐ-CP; bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lợi dụng tố cáo tiếp để vu khống, gây rối; chỉnh lý khoản 2 Điều 33 để làm rõ trách nhiệm pháp lý của người rút tố cáo.
  • Về mặt thực tiễn: Nâng cao năng lực nghiệp vụ cho cán bộ thanh tra, tiếp dân; thiết lập cơ chế giám sát độc lập đối với việc tiếp nhận và xử lý đơn thư; tăng cường tuyên truyền pháp luật tố cáo nhằm nâng cao nhận thức của người dân.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã trích xuất và phân tích các số liệu thực tế chứng minh tính cấp thiết của cơ chế bảo vệ quyền người tố cáo: Báo cáo của Tổ chức Hướng tới Minh bạch (TT) năm 2019 ghi nhận tỷ lệ người dân "lo sợ phải gánh chịu hậu quả" khi tố cáo sai phạm, tham nhũng đã tăng từ 24% (năm 2016) lên 49% (năm 2019). Tác giả đã phân tích hai vụ việc thực tiễn điển hình:

  1. Vụ việc tại Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Hà Nội (2017 - 2018): Giám đốc Sở ký chuyển đơn tố cáo sai phạm ngân sách về chính đơn vị bị tố cáo (Trung tâm Huấn luyện và thi đấu thể dục thể thao Hà Nội) dẫn đến lộ bí mật danh tính người tố cáo; qua đó chỉ ra khoảng trống pháp lý tại Điều 22 Nghị định số 31/2019/NĐ-CP khi không thể xử lý kỷ luật Phó Giám đốc tham mưu ký chuyển đơn.
  2. Vụ việc tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai (2019 - 2020): Vợ chồng công dân Đoàn Văn Phúc và Lê Thị Lập cố tình tố cáo sai sự thật nhiều lần dù vụ việc đã được giải quyết đúng chính sách pháp luật, phát tán hình ảnh xúc phạm cán bộ nhưng cơ quan chức năng gặp khó khăn trong xử lý do thiếu chế tài đối với công dân thông thường theo Nghị định số 31/2019/NĐ-CP.

Về mặt đóng góp khoa học, tác giả tự nêu rằng trong khi các công trình nghiên cứu trước đây (như khóa luận của Nguyễn Thị Mỹ Duyên năm 2018, Nguyễn Thị Hồng Ngân năm 2017, các bài viết của Nguyễn Thị Dung năm 2019, Đào Nhị năm 2020) chỉ tập trung vào một khía cạnh riêng lẻ như quyền được bảo mật thông tin hoặc bảo vệ tính mạng, thì khóa luận này là công trình nghiên cứu bao quát toàn diện toàn bộ hệ thống quyền của người tố cáo theo Luật Tố cáo năm 2018 trong mối quan hệ đa chiều với nghĩa vụ và thực tiễn áp dụng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu chủ yếu trong khuôn khổ quan hệ pháp luật hành chính điều chỉnh theo Luật Tố cáo năm 2018, chưa đi sâu nghiên cứu đối sánh toàn diện chế định bảo vệ người tố giác tội phạm trong tố tụng hình sự hoặc người làm chứng trong tố tụng dân sự.

Hướng nghiên cứu mở rộng được đề xuất là tiếp tục đánh giá tác động kinh tế - xã hội của cơ chế khen thưởng và quỹ bồi thường thiệt hại cho người tố cáo trên thực tế; đồng thời nghiên cứu xây dựng các quy chế phối hợp liên ngành có tính cưỡng chế cao giữa cơ quan công an, thanh tra và chính quyền địa phương trong công tác bảo vệ người tố cáo trong kỷ nguyên số.

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hành chính - Nhà nước, Luật Hiến pháp và Khoa học Thanh tra. Những nội dung phân tích chuyên sâu tại Chương 1 và Chương 2 là nguồn tài liệu hữu ích cho những người thực hiện đề tài về quyền con người, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng. Ngoài ra, cán bộ làm công tác tiếp công dân, cán bộ thanh tra nhà nước và các cơ quan thực thi pháp luật có thể tham khảo các kiến nghị hoàn thiện quy trình tiếp nhận đơn thư và bảo mật danh tính người tố cáo.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận định nghĩa khái niệm "Quyền của người tố cáo" như thế nào?
Tác giả định nghĩa: "Quyền của người tố cáo là những lợi ích mà pháp luật công nhận và cho phép người tố cáo được hưởng, được thực hiện phát sinh kể từ khi cá nhân thực hiện hành động tố cáo".

2. Điểm khác biệt căn bản giữa Luật Tố cáo năm 2011 và Luật Tố cáo năm 2018 về quyền tiếp cận thông tin của người tố cáo là gì?
Tại điểm c khoản 1 Điều 9 Luật Tố cáo năm 2011, người tố cáo chỉ có quyền "yêu cầu" cơ quan có thẩm quyền thông báo. Đến Luật Tố cáo năm 2018, quy định này được nâng cấp thành quyền đương nhiên "được thông báo" về toàn bộ quá trình (thụ lý, gia hạn, đình chỉ, kết luận), buộc cơ quan có thẩm quyền phải có nghĩa vụ chủ động thông báo.

3. Lỗ hổng pháp lý nào trong xử lý hành vi làm lộ thông tin người tố cáo được rút ra từ vụ việc tại Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Hà Nội?
Điều 22 Nghị định số 31/2019/NĐ-CP chỉ quy định chế tài xử lý kỷ luật (cảnh cáo) đối với người có thẩm quyền giải quyết tố cáo. Do đó, những chủ thể khác không có thẩm quyền giải quyết nhưng có hành vi trung gian chuyển đơn, tiếp nhận hồ sơ làm lộ danh tính người tố cáo (như trường hợp Phó Giám đốc Sở trong vụ việc) không thể bị áp dụng các hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo hay cách chức theo điều khoản này.

4. Vì sao việc xử lý công dân cố tình lợi dụng quyền tố cáo tiếp để tố cáo sai sự thật kéo dài lại gặp vướng mắc?
Điều 23 Nghị định số 31/2019/NĐ-CP quy định chế tài xử lý đối với hành vi biết rõ tố cáo sai sự thật nhưng vẫn tố cáo nhiều lần, tuy nhiên quy định này chỉ áp dụng cho đối tượng vi phạm là cán bộ, công chức, viên chức. Pháp luật hành chính hiện hành chưa có chế tài xử phạt cụ thể đối với đối tượng là công dân thông thường có hành vi tương tự.

5. Khóa luận sử dụng số liệu nào từ Báo cáo Phong vũ biểu Tham nhũng của Tổ chức Hướng tới Minh bạch (TT)?
Khóa luận dẫn số liệu khảo sát của Tổ chức Hướng tới Minh bạch năm 2019 cho thấy lý do chính khiến người dân không tố cáo là do lo sợ gánh chịu hậu quả, với tỷ lệ tăng từ 24% (năm 2016) lên 49% (năm 2019).

Kết luận

Khóa luận cử nhân Luật "Quyền của người tố cáo" của tác giả Trần Cẩm Nhung đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý về quyền của người tố cáo theo Luật Tố cáo năm 2018. Thông qua việc phân tích các vụ việc thực tế và số liệu xã hội học, công trình đã chỉ rõ các khoảng trống pháp lý liên quan đến hình thức tố cáo, căn cứ bảo vệ, chế tài làm lộ bí mật và xử lý lạm dụng tố cáo tiếp. Các kiến nghị sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật và giải pháp thực thi do tác giả đề xuất cung cấp những luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong tố cáo hành chính.