CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI TỐ CÁO 1. Khái niệm và đặc điểm về quyền của người tố cáo Tố cáo là một trong những công cụ hữu hiệu nhất phản ánh những hành vi vi phạm pháp luật nên người tố cáo có nguy cơ phải chịu rủi ro lớn cho bản thân và gia đình từ hành động tố cáo. Vì vậy, bằng quy định pháp luật, Nhà nước ghi nhận người tố cáo được hưởng những quyền lợi và Nhà nước bảo đảm những người tố cáo được thực hiện những quyền đó. Trước tiên, tác giả đi vào phân tích khái niệm và đặc điểm về quyền của người tố cáo để làm cơ sở lý luận định hướng cho khoá luận này.
Khái niệm quyền của người tố cáo Vấn đề quyền của người tố cáo là vấn đề được nhiều học giả quan tâm, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có khái niệm mang tính khoa học pháp lý nào. Vì vậy để làm rõ khái niệm quyền của người tố cáo, tác giả đi vào tìm hiểu những khái niệm về quyền của người tố cáo dưới những khía cạnh khác nhau. Dưới góc độ ngôn ngữ, theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “quyền” được hiểu là “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi”4. Trong khi đó, thuật ngữ “tố cáo” có hai cách hiểu, một là, “báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó”; hai là, “vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án, ngăn chặn”5.
Điểm chung của hai khái niệm “tố cáo” là đều thể hiện sự không đồng tình, bất bình đối với hành động xấu xa, phạm pháp của người thực hiện nên lên tiếng phản ánh, vạch trần cho mọi người biết để ngăn chặn. Dù hiểu theo nghĩa nào đi chăng nữa thì có thể rút ra rằng, theo Từ điển Tiếng Việt, “quyền của người tố cáo” được hiểu là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho người báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó hoặc người vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án, ngăn chặn được hưởng, được làm, được đòi hỏi. Tóm lại, với cách tiếp cận dưới góc độ ngôn ngữ, khái niệm “quyền của người tố cáo” có thể tạm hiểu là dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với người tố cáo để theo đó người tố cáo được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản. 4 Hoàng Phê (chủ biên) (2005), Từ điển tiếng Việt, NXB Hồng Đức, Hà Nội, tr.
5 Hoàng Phê (chủ biên) (2005), Từ điển tiếng Việt, NXB Hồng Đức, Hà Nội, tr. 7 Mang tính khoa học pháp lý hơn và bổ sung cho khái niệm trên, Từ điển Luật học đưa ra khái niệm “quyền là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, được hạn chế”6. Từ điển cũng định nghĩa “tố cáo là việc báo cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức hoặc của cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” 7. Như vậy, theo Từ điển Luật học, “quyền của người tố cáo” là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với người báo cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức hoặc của cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức để theo đó người tố cáo được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, được hạn chế.
Nhìn chung, cả hai khái niệm trên có cách giải thích tương đồng với nhau về khái niệm quyền của người tố cáo, đặc biệt khái niệm do Từ điển Luật học đưa ra còn bổ sung thêm yếu tố “không ai được ngăn cản, được hạn chế”. Dưới góc độ quan điểm chính thống của các nhà nghiên cứu, tham khảo trong Tập bài giảng Pháp luật Thanh tra, khiếu nại, tố cáo của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh có cách trình bày về nội dung quyền của người tố cáo như sau: “Quyền của người tố cáo được quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Tố cáo, bao gồm các quyền sau đây: a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật…; b) Được giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của mình…; c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông báo về việc thụ lý giải quyết tố cáo, thông báo chuyển vụ việc tố cáo sang cơ quan có thẩm quyền giải quyết, thông báo kết quả giải quyết tố cáo…; d) Tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết…; đ) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe doạ, trả thù, trù dập…; e) Được khen thưởng theo 6 Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Tư pháp - NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr. 7 Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Tư pháp - NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.
8 quy định của pháp luật…”8. Cách tiếp cận liệt kê nội dung quyền của người tố cáo bao gồm những quyền riêng biệt gì và sau đó tiến hành phân tích, bình luận những quyền lợi riêng biệt đó chứ không đưa ra khái niệm chung nào về quyền của người tố cáo. Mặc dù không đưa ra khái niệm cụ thể nhưng thông qua phân tích những khía cạnh quyền riêng biệt thuộc phạm vi quyền của người tố cáo, có thể hiểu rằng quyền của người tố cáo là những quyền lợi được pháp luật ghi nhận cho phép người tố cáo được hưởng, được thực hiện. Tham khảo bài viết “Pháp luật về bảo vệ người tố cáo - Thực trạng và một số kiến nghị”9 của tác giả Nguyễn Đức Quang, tác giả lập luận rằng “Để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo, Nhà nước ban hành các quy định về quyền của người tố cáo và bảo vệ người tố cáo, ghi nhận quyền và nghĩa vụ của họ”.
Như vậy, tuy không trực tiếp đưa ra khái niệm về quyền của người tố cáo nhưng thông qua lập luận trên có thể thấy tác giả ngầm hiểu quyền của người tố cáo là những quy định pháp luật ghi nhận những quyền lợi của người tố cáo. Hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào xây dựng được định nghĩa đầy đủ của khái niệm “quyền của người tố cáo”, hầu hết các giáo trình, sách chuyên khảo, tài liệu có xu hướng chỉ liệt kê nội dung quyền của người tố cáo bao gồm những quyền lợi gì và tiến hành phân tích, bình luận những quyền riêng biệt đó chứ không đưa ra khái niệm cụ thể. Tuy vậy, điểm chung trong cách tiếp cận quyền của người tố cáo dưới hình thức liệt kê những quyền riêng biệt là ngầm khẳng định quyền của người tố cáo là những lợi ích, những quyền lợi mà pháp luật công nhận, cho phép người tố cáo được hưởng, được thực hiện. Dẫu vậy, các cách tiếp cận trên vẫn chưa làm rõ được bản chất quyền của người tố cáo.
Tóm lại, trên cơ sở phân tích và đánh giá dưới các góc độ khác nhau, theo quan điểm của chúng tôi có thể đưa ra định nghĩa về khái niệm quyền của người tố cáo như sau: “Quyền của người tố cáo là những lợi ích mà pháp luật công nhận và cho phép người tố cáo được hưởng, được thực hiện phát sinh kể từ khi cá nhân thực hiện hành động tố cáo”. Khái niệm này được xây dựng dựa trên mặt ngôn ngữ đặt trong mối quan hệ với pháp luật tố cáo và đồng thời thể hiện được bản chất của quyền của người tố cáo. 8 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2020), Tập bài giảng Pháp luật thanh tra, khiếu nại và tố cáo, Nxb Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, tr.
9 Nguyễn Đức Quang (2017), “Pháp luật về bảo vệ người tố cáo - Thực trạng và một số kiến nghị”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (12), tr. Đặc điểm quyền của người tố cáo Trên cơ sở khái niệm đã được xây dựng ở trên, có thể thấy quyền của người tố cáo có một số đặc điểm cơ bản sau: Một là, quyền của người tố cáo được pháp luật công nhận và đảm bảo trong quá trình giải quyết tố cáo. Trước tiên, quyền của người tố cáo phải mang đặc điểm của quyền nói chung, vì vậy “dấu hiệu đặc trưng thứ nhất của quyền là phải có sự ghi nhận về mặt pháp lý và được đảm bảo thực hiện bởi các quy định của pháp luật” 10. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Nguyên tắc này thể hiện rõ ràng tại Điều 4 Hiến pháp năm 2013 và quy định tại Điều 14 Hiến pháp năm 2013 về các quyền con người, quyền công dân “được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Một trong những dấu hiệu đặc trưng và nguyên tắc của nhà nước pháp quyền là “nhà nước quản lý bằng pháp luật và pháp luật là công cụ quan trọng nhất trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội”11. Xét trong phạm vi pháp luật tố cáo, biểu hiện của nguyên tắc trên chính là sự ghi nhận và điều chỉnh của pháp luật tố cáo về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo. Luật Tố cáo hiện hành và các văn bản liên quan có quy định một cách trực tiếp hoặc gián tiếp người tố cáo được hưởng, được thực hiện nhiều quyền và đi kèm với đó là những nghĩa vụ khác nhau.