Thực hành quyền công tố vụ án xâm phạm sở hữu tại VKSND huyện Yên Định, Thanh Hóa

Luận văn phân tích thực tiễn thực hành quyền công tố vụ án xâm phạm sở hữu tại VKSND huyện Yên Định, Thanh Hóa, nêu rõ hạn chế và đề xuất giải pháp.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

87
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

0.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn

0.7. Kết cấu luận văn

1. Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố

1.2. Chủ thể áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố

1.3. Nội dung hoạt động áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân

1.4. Những yếu tố tác động đến áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân đối với các vụ án xâm phạm sở hữu

1.5. Tiểu kết Chương 1

2. Chương 2: ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

2.1. Đặc điểm tình hình của huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa và Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Kết quả hoạt động giai đoạn 2016-2020.

2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu tại Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

2.3. Kết quả khởi tố vụ án xâm phạm sở hữu giai đoạn 2016-2020.

2.4. Kết quả áp dụng pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với hành vi xâm phạm sở hữu

2.5. Kết quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử với các tội xâm phạm sở hữu

2.6. Số vụ án bị kháng nghị giai đoạn 2016-2020

2.7. Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân

2.8. Tiểu kết Chương 2

3. Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với các tội phạm và với các tội xâm phạm sở hữu.

3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu tại Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

3.3. Tiểu kết Chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Quyền công tố vụ án xâm phạm sở hữu Tổng quan VKS Yên Định

Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội tại huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, các tội xâm phạm sở hữu có xu hướng gia tăng về số lượng và phức tạp về tính chất. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND). Quyền công tố được định nghĩa là quyền năng của Nhà nước, giao cho VKSND nhân danh quyền lực công thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với người phạm tội và bảo vệ sự buộc tội trước Tòa án. Hoạt động này trải dài từ khi giải quyết tố giác, tin báo tội phạm cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật. Vai trò của Kiểm sát viên là trung tâm, đòi hỏi sự vận dụng chính xác các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sựBộ luật Hình sự để đảm bảo mọi hành vi phạm tội, đặc biệt là các tội như trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hay cướp giật tài sản, đều được xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội. Việc áp dụng pháp luật về quyền công tố không chỉ là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước mà còn thể hiện kỹ năng nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp và bản lĩnh chính trị của người cán bộ kiểm sát. Tại VKSND huyện Yên Định, công tác này được xem là nhiệm vụ trọng tâm, góp phần bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của công dân, tổ chức và giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn.

1.1. Khái niệm và vai trò của thực hành quyền công tố

Thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự nhằm thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội. Theo Luận văn Thạc sĩ của Đinh Viết Sơn (2021), hoạt động này được triển khai ngay từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố vụ án, và xuyên suốt quá trình kiểm sát điều tra, truy tốxét xử. Mục đích cốt lõi là bảo đảm mọi tội phạm và người phạm tội được phát hiện, xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Thông qua đó, vai trò của Kiểm sát viênthẩm quyền của Viện kiểm sát được thể hiện rõ nét, góp phần bảo vệ Hiến pháp, pháp luật, quyền con người và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân.

1.2. Đặc điểm các tội xâm phạm sở hữu tại huyện Yên Định

Tại Yên Định, các tội xâm phạm sở hữu phổ biến bao gồm trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sảncướp giật tài sản. Thủ đoạn của tội phạm ngày càng tinh vi, thường lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của người dân hoặc sử dụng công nghệ cao để thực hiện hành vi lừa đảo. Tình hình này đặt ra thách thức không nhỏ cho các cơ quan tiến hành tố tụng, đòi hỏi công tác thực hành quyền công tố phải nhạy bén, quyết liệt và toàn diện để có thể thu thập chứng cứ và chứng minh tội phạm một cách thuyết phục.

II. Các khó khăn vướng mắc trong quyền công tố vụ án sở hữu

Thực tiễn áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với các vụ án xâm phạm sở hữu tại VKSND huyện Yên Định bên cạnh những kết quả tích cực vẫn còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc. Một trong những thách thức lớn nhất là công tác đánh giá chứng cứ. Các tội phạm như lừa đảo chiếm đoạt tài sản thường có diễn biến phức tạp, liên quan đến nhiều giao dịch dân sự, kinh tế, đòi hỏi Kiểm sát viên phải có kiến thức chuyên sâu để phân biệt ranh giới giữa tranh chấp dân sự và tội phạm hình sự. Bên cạnh đó, năng lực và kỹ năng của một bộ phận cán bộ còn hạn chế. Luận văn của Đinh Viết Sơn (2021) chỉ ra rằng: “một số vụ án Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị tài liệu tham gia phiên tòa xét xử chưa tốt, nên chất lượng tranh tụng chưa cao”. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả buộc tội tại phiên tòa. Áp lực từ dư luận xã hội đối với các vụ án được quan tâm cũng là một yếu tố tác động, đòi hỏi Kiểm sát viên phải giữ vững bản lĩnh, đảm bảo các quyết định đưa ra dựa trên cơ sở pháp luật, khách quan và toàn diện, tránh xu hướng xét xử theo dư luận. Việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng đôi khi chưa thực sự đồng bộ, kịp thời, dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

2.1. Thách thức trong việc thu thập và đánh giá chứng cứ

Công tác thu thập chứng cứđánh giá chứng cứ là hoạt động xương sống trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các tội xâm phạm sở hữu, đặc biệt là các tội có yếu tố công nghệ cao hoặc thủ đoạn gian dối, việc tìm kiếm, thu thập dấu vết, tài liệu gặp nhiều khó khăn. Chứng cứ buộc tội đôi khi không vững chắc, mâu thuẫn, đòi hỏi Kiểm sát viên phải trực tiếp tham gia vào một số hoạt động điều tra, phúc tra tài liệu để đảm bảo tính khách quan trước khi đưa ra quyết định truy tố.

2.2. Hạn chế về kỹ năng tranh tụng của một số Kiểm sát viên

Chất lượng tranh tụng tại phiên tòa là thước đo quan trọng về hiệu quả thực hành quyền công tố. Thực tiễn cho thấy một số Kiểm sát viên chưa chủ động trong việc xét hỏi, đối đáp và bảo vệ cáo trạng. Kỹ năng hùng biện, khả năng phân tích và phản biện các lập luận từ phía luật sư bào chữa đôi khi còn hạn chế. Điều này xuất phát từ việc chuẩn bị chưa kỹ lưỡng hoặc thiếu kinh nghiệm thực tiễn xét xử, ảnh hưởng đến tính thuyết phục của lời luận tội và kết quả giải quyết vụ án.

III. Phương pháp thực hành quyền công tố giai đoạn khởi tố vụ án

Giai đoạn khởi tố vụ án là khâu đầu tiên và có ý nghĩa quyết định trong toàn bộ quá trình tố tụng hình sự. Tại VKSND huyện Yên Định, việc áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn này được thực hiện một cách thận trọng và chặt chẽ. Theo thống kê giai đoạn 2016-2020, VKSND huyện Yên Định đã kiểm sát 183 quyết định khởi tố vụ án xâm phạm sở hữu, chiếm 25% tổng số vụ án được khởi tố. Kiểm sát viên có trách nhiệm nghiên cứu kỹ hồ sơ, tố giác, tin báo tội phạm do Cơ quan điều tra (CQĐT) chuyển đến. Thẩm quyền của Viện kiểm sát được thể hiện qua việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can. Trong 5 năm, đơn vị đã ra quyết định không phê chuẩn 04 trường hợp và hủy 04 quyết định khởi tố bị can của CQĐT do không đủ căn cứ. Đồng thời, VKS đã chủ động ban hành 09 yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm nhưng chưa được xử lý, thể hiện rõ vai trò chống bỏ lọt tội phạm. Mỗi quyết định được đưa ra đều dựa trên sự đánh giá chứng cứ ban đầu một cách khách quan, toàn diện, đảm bảo việc khởi tố đúng người, đúng tội, tuân thủ nghiêm ngặt quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

3.1. Quy trình phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố

Khi nhận được đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can từ CQĐT, Kiểm sát viên phải kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của các tài liệu, chứng cứ. Quy trình này đòi hỏi sự xem xét kỹ lưỡng các yếu tố cấu thành tội phạm, đặc biệt là đối với các tội xâm phạm sở hữu. Nếu nhận thấy chứng cứ yếu, chưa đủ cơ sở, VKS sẽ ra quyết định không phê chuẩn hoặc yêu cầu bổ sung tài liệu. Trong giai đoạn 2016-2020, VKS Yên Định đã có 34 lần yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ, cho thấy sự thận trọng trong việc ra quyết định tố tụng.

3.2. Vai trò của VKS trong việc chống oan sai bỏ lọt tội phạm

Một trong những nhiệm vụ cốt lõi của thực hành quyền công tố là đảm bảo không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm. Viện kiểm sát nhân dân thực hiện nhiệm vụ này bằng cách kiểm sát chặt chẽ mọi hoạt động của CQĐT ngay từ đầu. Việc chủ động yêu cầu khởi tố, hủy bỏ các quyết định khởi tố không có căn cứ pháp luật là minh chứng rõ nét cho vai trò này, góp phần làm trong sạch hóa hoạt động tư pháp và củng cố niềm tin của nhân dân.

IV. Bí quyết kiểm sát điều tra truy tố các tội xâm phạm sở hữu

Để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn kiểm sát điều tratruy tố, VKSND huyện Yên Định đã áp dụng nhiều giải pháp nghiệp vụ hiệu quả. Trọng tâm là việc nâng cao chất lượng các bản yêu cầu điều tra. Mỗi Kiểm sát viên được phân công thụ lý vụ án phải nắm chắc tiến độ, chủ động đề ra yêu cầu điều tra cụ thể, chi tiết, định hướng cho Điều tra viên thu thập chứng cứ toàn diện, cả chứng cứ buộc tội và gỡ tội. Đặc biệt, VKS kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Thống kê giai đoạn 2016-2020 cho thấy, VKS đã phê chuẩn hàng trăm lệnh tạm giam, gia hạn tạm giữ nhưng cũng kiên quyết hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp khác đối với 37 trường hợp khi xét thấy không còn cần thiết. Ví dụ điển hình là vụ án trộm cắp tài sản của Nguyễn Minh Chức, VKS đã trả hồ sơ yêu cầu CQĐT điều tra bổ sung để làm rõ tình tiết định khung “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” và xử lý đối tượng tiêu thụ tài sản, tránh bỏ lọt tội phạm. Trước khi ban hành cáo trạng truy tố, Kiểm sát viên phải phúc tra lại toàn bộ hồ sơ, trực tiếp hỏi cung bị can nếu cần thiết để đảm bảo quyết định truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội danh.

4.1. Cách đề ra yêu cầu điều tra và thu thập chứng cứ buộc tội

Yêu cầu điều tra chất lượng phải chỉ ra được những vấn đề cần làm rõ, những chứng cứ cần thu thập và các hoạt động điều tra cần tiến hành. Kiểm sát viên phải bám sát quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng Hình sự về những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự. Yêu cầu phải cụ thể, khả thi và có trọng tâm, giúp Điều tra viên không đi chệch hướng, đảm bảo quá trình điều tra khách quan, toàn diện.

4.2. Áp dụng các biện pháp ngăn chặn đảm bảo quyền con người

Việc phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân. Do đó, Kiểm sát viên phải xem xét hết sức thận trọng. Tại VKSND huyện Yên Định, không có trường hợp nào tạm giam, tạm giữ oan sai. Đơn vị đã từ chối phê chuẩn lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp 02 lần và hủy bỏ 03 quyết định tạm giữ trong giai đoạn 2016-2020, thể hiện sự nghiêm túc trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

V. Kết quả thực tiễn xét xử vụ án xâm phạm sở hữu 2016 2020

Thực tiễn xét xử là giai đoạn quan trọng nhất, nơi quyền công tố của VKS được thể hiện công khai thông qua hoạt động tranh tụng tại phiên tòa. Trong giai đoạn 2016-2020, VKSND huyện Yên Định đã thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử 117 vụ án xâm phạm sở hữu với 279 bị cáo. Một thành công nổi bật là 100% các vụ án do VKS truy tố đều được Tòa án tuyên có tội, không có trường hợp nào Tòa tuyên không phạm tội. Điều này khẳng định chất lượng công tác điều tra, truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật. Bên cạnh đó, công tác kháng nghị phúc thẩm cũng được chú trọng. VKS đã ban hành 06 bản kháng nghị đối với các bản án sơ thẩm có vi phạm và được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận 100%. Để nâng cao kỹ năng cho đội ngũ, VKS đã phối hợp với Tòa án tổ chức 13 phiên tòa rút kinh nghiệm, giúp các Kiểm sát viên học hỏi, trau dồi kỹ năng xét hỏi, tranh luận và đối đáp. Những phiên tòa này không chỉ nâng cao chất lượng nghiệp vụ mà còn góp phần tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân, đặc biệt thông qua 09 phiên tòa xét xử lưu động được tổ chức tại các địa bàn trọng điểm.

5.1. Thống kê số vụ án truy tố và tỷ lệ kháng nghị thành công

Các số liệu từ báo cáo tổng kết của VKSND huyện Yên Định cho thấy sự hiệu quả trong công tác truy tố và kiểm sát xét xử. Tỷ lệ giải quyết án đạt 96,6%. Việc ban hành 06 kháng nghị và 05 kiến nghị khắc phục vi phạm, tất cả đều được chấp nhận, cho thấy vai trò của Kiểm sát viên trong việc giám sát hoạt động tư pháp, đảm bảo các phán quyết của Tòa án là công minh, đúng pháp luật.

5.2. Phân tích chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa

Chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã có nhiều tiến bộ. Các bản luận tội được chuẩn bị kỹ lưỡng, sắc bén, có tính thuyết phục cao. Kiểm sát viên đã chủ động hơn trong việc tham gia xét hỏi để làm rõ các tình tiết của vụ án, tích cực tranh luận với luật sư và bị cáo để bảo vệ quan điểm truy tố. Việc tăng cường các phiên tòa rút kinh nghiệm là một giải pháp, kiến nghị hiệu quả để liên tục cải thiện kỹ năng này, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

VI. Giải pháp nâng cao hiệu quả quyền công tố VKSND huyện Yên Định

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu, VKSND huyện Yên Định cần tập trung vào các nhóm giải pháp, kiến nghị mang tính chiến lược. Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện các quy chế nghiệp vụ nội bộ, cụ thể hóa quy trình kiểm sát điều tratruy tố, đặc biệt là các hướng dẫn chi tiết về đánh giá chứng cứ đối với các loại tội phạm mới, tội phạm sử dụng công nghệ cao. Yếu tố con người là then chốt, do đó, việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng tranh tụng và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ Kiểm sát viên là nhiệm vụ cấp bách. Cần tổ chức nhiều hơn các phiên tòa rút kinh nghiệm và khuyến khích Kiểm sát viên tự học, tự nghiên cứu để cập nhật kiến thức pháp luật và xã hội. Bên cạnh đó, cần tăng cường mối quan hệ phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng khác như Cơ quan điều tra và Tòa án. Việc tổ chức các cuộc họp liên ngành để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong các vụ án phức tạp sẽ giúp thống nhất quan điểm xử lý, đẩy nhanh tiến độ giải quyết án. Cuối cùng, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, chỉ đạo điều hành và quản lý hồ sơ vụ án sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác, đảm bảo hoạt động công tố ngày càng chuyên nghiệp, chính xác và minh bạch.

6.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và quy chế nghiệp vụ ngành

Hệ thống pháp luật, đặc biệt là Bộ luật Tố tụng Hình sựBộ luật Hình sự, cần được tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi để phù hợp với thực tiễn xét xử. Về phía ngành, VKSND tối cao cần ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể hơn về việc phân loại, xử lý các tội xâm phạm sở hữu có yếu tố công nghệ, giúp các đơn vị địa phương có cơ sở pháp lý vững chắc để áp dụng thống nhất.

6.2. Nâng cao năng lực và bản lĩnh chính trị cho Kiểm sát viên

Một Kiểm sát viên giỏi không chỉ vững về chuyên môn mà còn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng. Viện kiểm sát nhân dân cần chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng đội ngũ cán bộ “công tâm, bản lĩnh, kỷ cương, trách nhiệm”. Việc thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn sẽ giúp Kiểm sát viên tự tin, quyết đoán khi đưa ra các quyết định tố tụng quan trọng.

04/10/2025
Áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu từ thực tiễn viện kiểm sát nhân dân huyện yên định tỉnh thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố 1. Khái niệm áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố a) Khái niệm thực hành quyền công tố “Công tố” là một từ ghép Hán - Việt, được cấu tạo bằng hai từ đơn là “công” và “tố”. Theo Từ điển tiếng việt, “tố” có nghĩa là nói công khai cho mọi người biết việc làm sai trái, phạm pháp của người khác, còn “công” có nghĩa là thuộc về nhà nước chung cho mọi người; “công tố” là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án” [37 tr.

Như vậy, “Công tố” theo Từ điển tiếng Việt là một khái niệm bao gồm bốn nội dung: điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu trước Tòa án. Các chủ thể liên quan đến hoạt động công tố bao gồm chủ thể thực hiện việc buộc tội là Nhà nước, đối tượng bị Nhà nước buộc tội là các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật. Xung quanh khái niệm quyền công tố có khá nhiều quan điểm khác nhau, như sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tất cả các hoạt động của VKS, bao gồm cả công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS đều là THQCT [6, tr. Quan điểm thứ hai cho rằng: Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa [50, tr.

Quan điểm thứ ba cho rằng: Quyền công tố là quyền đại diện cho nhà nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật ra toà án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước, xã hội, công dân, bảo vệ trật tự pháp luật [48, tr. Quan điểm thứ tư cho rằng, quyền công tố là quyền nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội [50, tr. Quan điểm thứ năm cho rằng, quyền công tố là quyền của nhà nước được nhà nước giao cho một cơ quan (ở Việt Nam là cơ quan VKS) thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội. Để làm được điều này, cơ quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội 7 phạm và người phạm tội.

Trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa. Tác giả đồng tình với quan điểm thứ năm cho rằng: Quyền công tố là quyền của nhà nước, được nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội và bảo vệ việc buộc tội trước phiên tòa. Quyền công tố chỉ được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật đã gắn liền, đó là lĩnh vực tố tụng hình sự. Do vậy, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà không có trong các lĩnh vực khác.

Từ sự phân tích trên có thể hiểu “quyền công tố” là quyền được Nhà nước giao cho VKSND, nhân danh quyền lực công thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội và bảo vệ việc buộc tội trước phiên tòa. Phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị [41, tr. Để đảm bảo việc thực hiện quyền đó, Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố mà cơ quan có thẩm quyền được áp dụng để truy cứu TNHS đối với người phạm tội, cơ quan được giao thẩm quyền truy tố đưa vụ án ra toà án để xét xử và thực hiện việc buộc tội đó gọi là cơ quan THQCT. Việc quy định cơ quan THQCT là không giống nhau ở các nước, phụ thuộc vào chế độ chính trị của mỗi nước.

Ở nước ta, Nhà nước giao cho VKSND thực hiện chức năng này cho nên chỉ có VKSND mới có chức năng THQCT mà không có cơ quan nào có được. Hiến pháp năm 1959 đã ghi nhận sự ra đời của một cơ quan nhà nước mới trong bộ máy nhà nước, đó là VKS. Điều 105 Hiến pháp năm 1959 quy định: “VKSND tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hoà kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân. Các VKSND địa phương và VKS quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi do luật định” [31].

Sự ra đời của mô hình VKS thay thế cho mô hình Viện công tố ở nước ta là một điểm tiến bộ, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ bảo đảm pháp chế thống nhất, là cơ sở cho việc xây dựng nhà nước kiểu mới - nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. VKSND là cơ quan được giao thực hiện chức năng thực hành quyền đưa người phạm tội ra truy tố trước pháp luật, thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội. Hoạt động THQCT của VKSND nhằm thực hiện việc 8 buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội. Mục đích của hoạt động THQCT là phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh mọi tội phạm và người phạm tội, không kết tội oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, qua đó bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Một cách ngắn gọn, Viện KSND thực hành quyền công tố góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, qua đó bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân [40]. Phạm vi THQCT được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014, cụ thể: “THQCT là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” [33]. Theo quy định này, VKSND thực hành quyền công tố trong những lĩnh vực sau: THQCT trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; trong giai đoạn truy tố tội phạm; trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự; điều tra một số loại tội phạm và THQCT trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự. Nội dung thực hành quyền công tố bao gồm các hoạt động cụ thể sau: - Yêu cầu khởi tố, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật TTHS quy định; - Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật của Cơ quan điều tra; - Đề ra yêu cầu điều tra hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội; - Truy tố bị can ra trước Tòa án trên cơ sở kết quả điều tra vụ án và chứng minh được người phạm tội.

- Buộc tội bị cáo và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa bằng cách công bố bản cáo trạng, tham gia xét hỏi, trình bày lời luận tội và tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm; nếu vụ án bị kháng cáo hoặc kháng nghị thì có mặt để tham gia xét hỏi và trình bày lời kết luận về kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa phúc thẩm. Từ sự phân tích trên, tác giả đưa khái niệm về thực hành quyền công tố như sau: Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng 9 pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử, nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân, đảm bảo pháp chế Xã hội chủ nghĩa. b) Khái niệm áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố Áp dụng pháp luật là hoạt động thực hiện pháp luật mang tính tổ chức quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hoá quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể, đối với cá nhân, tổ chức cụ thể [47]. Áp dụng pháp luật được thực hiện khi xả ra các sự kiện sau: - Khi xảy ra tranh chấp giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật về quyền và nghĩa vụ mà tự họ không thể giải quyết được, phải nhờ cơ quan nhà nước (hoặc cơ quan của tổ chức xã hội) có thẩm quyền giải quyết.

- Khi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước. - Khi cần áp dụng chế tài pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật. - Khi nhà nước thấy cần kiểm tra, giám sát hoạt động của các chủ thể quan hệ pháp luật hoặc để xác định sự tồn tại hay không tồn tại của sự kiện thực tế có ý nghĩa pháp lí như xác nhận di chúc, xác nhận văn bằng, chứng chỉ, hợp đồng viết tay, chữ kí của người có thẩm quyền. Áp dụng pháp luật về THQCT đối với các vụ án hình sự là một dạng của áp dụng pháp luật nói chung.

Áp dụng pháp luật về THQCT thuộc trường hợp áp dụng pháp luật: Khi Nhà nước thấy cần thiết phải truy cứu TNHS đối với người phạm tội, cần phải áp dụng chế tài pháp luật đối với người phạm tội. Cơ sở phát sinh hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT của VKSND là việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, pháp luật TTHS vào thực tiễn vụ việc cụ thể nhằm truy tố một người ra trước pháp luật, buộc người đó phải chịu trách nhiệm pháp lý cho hành vi vi phạm pháp luật hình sự.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ