Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố 1. Khái niệm áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố a) Khái niệm thực hành quyền công tố “Công tố” là một từ ghép Hán - Việt, được cấu tạo bằng hai từ đơn là “công” và “tố”. Theo Từ điển tiếng việt, “tố” có nghĩa là nói công khai cho mọi người biết việc làm sai trái, phạm pháp của người khác, còn “công” có nghĩa là thuộc về nhà nước chung cho mọi người; “công tố” là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án” [37 tr.
Như vậy, “Công tố” theo Từ điển tiếng Việt là một khái niệm bao gồm bốn nội dung: điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu trước Tòa án. Các chủ thể liên quan đến hoạt động công tố bao gồm chủ thể thực hiện việc buộc tội là Nhà nước, đối tượng bị Nhà nước buộc tội là các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật. Xung quanh khái niệm quyền công tố có khá nhiều quan điểm khác nhau, như sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tất cả các hoạt động của VKS, bao gồm cả công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS đều là THQCT [6, tr. Quan điểm thứ hai cho rằng: Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa [50, tr.
Quan điểm thứ ba cho rằng: Quyền công tố là quyền đại diện cho nhà nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật ra toà án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước, xã hội, công dân, bảo vệ trật tự pháp luật [48, tr. Quan điểm thứ tư cho rằng, quyền công tố là quyền nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội [50, tr. Quan điểm thứ năm cho rằng, quyền công tố là quyền của nhà nước được nhà nước giao cho một cơ quan (ở Việt Nam là cơ quan VKS) thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội. Để làm được điều này, cơ quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội 7 phạm và người phạm tội.
Trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa. Tác giả đồng tình với quan điểm thứ năm cho rằng: Quyền công tố là quyền của nhà nước, được nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội và bảo vệ việc buộc tội trước phiên tòa. Quyền công tố chỉ được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật đã gắn liền, đó là lĩnh vực tố tụng hình sự. Do vậy, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà không có trong các lĩnh vực khác.
Từ sự phân tích trên có thể hiểu “quyền công tố” là quyền được Nhà nước giao cho VKSND, nhân danh quyền lực công thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội và bảo vệ việc buộc tội trước phiên tòa. Phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị [41, tr. Để đảm bảo việc thực hiện quyền đó, Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố mà cơ quan có thẩm quyền được áp dụng để truy cứu TNHS đối với người phạm tội, cơ quan được giao thẩm quyền truy tố đưa vụ án ra toà án để xét xử và thực hiện việc buộc tội đó gọi là cơ quan THQCT. Việc quy định cơ quan THQCT là không giống nhau ở các nước, phụ thuộc vào chế độ chính trị của mỗi nước.
Ở nước ta, Nhà nước giao cho VKSND thực hiện chức năng này cho nên chỉ có VKSND mới có chức năng THQCT mà không có cơ quan nào có được. Hiến pháp năm 1959 đã ghi nhận sự ra đời của một cơ quan nhà nước mới trong bộ máy nhà nước, đó là VKS. Điều 105 Hiến pháp năm 1959 quy định: “VKSND tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hoà kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân. Các VKSND địa phương và VKS quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi do luật định” [31].
Sự ra đời của mô hình VKS thay thế cho mô hình Viện công tố ở nước ta là một điểm tiến bộ, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ bảo đảm pháp chế thống nhất, là cơ sở cho việc xây dựng nhà nước kiểu mới - nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. VKSND là cơ quan được giao thực hiện chức năng thực hành quyền đưa người phạm tội ra truy tố trước pháp luật, thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội. Hoạt động THQCT của VKSND nhằm thực hiện việc 8 buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội. Mục đích của hoạt động THQCT là phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh mọi tội phạm và người phạm tội, không kết tội oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, qua đó bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Một cách ngắn gọn, Viện KSND thực hành quyền công tố góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, qua đó bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân [40]. Phạm vi THQCT được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014, cụ thể: “THQCT là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” [33]. Theo quy định này, VKSND thực hành quyền công tố trong những lĩnh vực sau: THQCT trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; trong giai đoạn truy tố tội phạm; trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự; điều tra một số loại tội phạm và THQCT trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự. Nội dung thực hành quyền công tố bao gồm các hoạt động cụ thể sau: - Yêu cầu khởi tố, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật TTHS quy định; - Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật của Cơ quan điều tra; - Đề ra yêu cầu điều tra hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội; - Truy tố bị can ra trước Tòa án trên cơ sở kết quả điều tra vụ án và chứng minh được người phạm tội.
- Buộc tội bị cáo và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa bằng cách công bố bản cáo trạng, tham gia xét hỏi, trình bày lời luận tội và tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm; nếu vụ án bị kháng cáo hoặc kháng nghị thì có mặt để tham gia xét hỏi và trình bày lời kết luận về kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa phúc thẩm. Từ sự phân tích trên, tác giả đưa khái niệm về thực hành quyền công tố như sau: Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng 9 pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử, nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân, đảm bảo pháp chế Xã hội chủ nghĩa. b) Khái niệm áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố Áp dụng pháp luật là hoạt động thực hiện pháp luật mang tính tổ chức quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hoá quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể, đối với cá nhân, tổ chức cụ thể [47]. Áp dụng pháp luật được thực hiện khi xả ra các sự kiện sau: - Khi xảy ra tranh chấp giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật về quyền và nghĩa vụ mà tự họ không thể giải quyết được, phải nhờ cơ quan nhà nước (hoặc cơ quan của tổ chức xã hội) có thẩm quyền giải quyết.
- Khi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước. - Khi cần áp dụng chế tài pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật. - Khi nhà nước thấy cần kiểm tra, giám sát hoạt động của các chủ thể quan hệ pháp luật hoặc để xác định sự tồn tại hay không tồn tại của sự kiện thực tế có ý nghĩa pháp lí như xác nhận di chúc, xác nhận văn bằng, chứng chỉ, hợp đồng viết tay, chữ kí của người có thẩm quyền. Áp dụng pháp luật về THQCT đối với các vụ án hình sự là một dạng của áp dụng pháp luật nói chung.
Áp dụng pháp luật về THQCT thuộc trường hợp áp dụng pháp luật: Khi Nhà nước thấy cần thiết phải truy cứu TNHS đối với người phạm tội, cần phải áp dụng chế tài pháp luật đối với người phạm tội. Cơ sở phát sinh hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT của VKSND là việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, pháp luật TTHS vào thực tiễn vụ việc cụ thể nhằm truy tố một người ra trước pháp luật, buộc người đó phải chịu trách nhiệm pháp lý cho hành vi vi phạm pháp luật hình sự.