Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUYỀN CHỌN VÀ THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN Các sản phẩm tài chính phái sinh nói chung mà quyền chọn nói riêng ra đời từ sự bất ổn của thị trường, nhằm mục đích tạo ra công cụ bảo vệ giá trị tài sản của nhà đầu tư trước sự thay đổi của giá cả thị trường. Thị trường chứng khoán ban đầu phát triển một cách rất tự phát và sơ khai, xuất phát từ một nhu cầu đơn lẻ ở buổi ban đầu. Vào giữa thế kỷ 15, tại những thành phố trung tâm buôn bán ở phương Tây, các thương gia tụ tập tại các quán cà phê để trao đổi mua bán các vật phẩm, hàng hóa, v…v…lúc đầu chỉ một nhóm nhỏ, dần dần tăng dần và hình thành một khu chợ riêng. Cuối thế kỷ 15, để tiện hơn cho việc làm ăn, khu chợ trở thành “thị trường” với việc thống nhất các qui ước và cũng dần dần những qui ước này được sửa đổi hoàn chỉnh thành những qui tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham gia thị trường.
Phiên chợ đầu tiên được diễn ra vào năm 1453 tại một lữ quán của gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ), tại đó có một bảng hiệu có hình ba túi da với một từ tiếng Pháp là “Bourse” tức là “Mậu dịch trường” hay còn gọi là “Sở giao dịch”. Còn ba chiếc túi da tượng trưng cho 3 nội dung của Mậu dịch trường đó là: Hàng hóa, Ngoại tệ và Giá khoán động sản. Năm 1574 do eo biển dẫn tàu bè vào thị trấn bị lấp mất mà Mậu dịch trường Bruges mất hẳn sự phồn vinh của nó. Thị trường được dời đến Auvers, tại đây Mậu dịch trường đã phát triển mạnh và từ kinh nghiệm của nó mà Mậu dịch trường ở các nước đã bắt đầu phát triển.
Tại London vào khoảng giữa thế kỷ 18 Mậu dịch trường Anh quốc đã được phát triển theo nguyên mẫu của Auvers được gọi là Stock Exchange. Tại các nước Châu Âu khác Mậu dịch trường cũng dần được thành lập nhưng cũng đã có ít nhiều cải tiến để phù hợp với điều kiện ở mỗi quốc gia. Sau một thời gian hoạt động Mậu dịch trường không còn đủ sức và phù hợp để tiến hành giao dịch trên cả 3 lĩnh vực với nội dung khác nhau. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Cho nên giao dịch hàng hóa tách ra thành Khu thương mại, giao dịch ngoại tệ thành Thị trường hối đoái, giao dịch các hợp đồng về sau được gọi là “Thị trường tương lai”….
và giao dịch giá khoán động sản thành Thị trường chứng khoán. Các phương thức ban đầu diễn ra ngoài trời với những ký hiệu bằng tay và có thư ký nhận lệnh của khách hàng. Ở Mỹ cho đến năm 1921, khu chợ ngoài trời được chuyển vào trong nhà, Sở giao dịch chứng khoán được thành lập. Hàng hóa trên thị trường lúc này chỉ đơn thuần là những giấy tờ có giá như cổ phiếu và trái phiếu Lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán thế giới trải qua một sự phát triển thăng trầm lúc lên lúc xuống, vào những năm 1875 – 1913, thị trường chứng khoán thế giới phát triển huy hoàng cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế thế giới lúc đó, nhưng rồi đến ngày thứ “Năm đen tối”, tức là ngày 29/10/1929, thị trường chứng khoán New York, Tây Âu, Bắc Âu và Nhật Bản đã khủng hoảng.
Mãi tới khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, các thị trường mới dần phục hồi và phát triển. Năm 1987, một lần nữa các thị trường chứng khoán trên thế giới lại điên đảo với “Ngày thứ hai đen tối” do hệ thống thanh toán kém cỏi không đảm đương yêu cầu giao dịch, sụt giá chứng khoán ghê gớm, mất lòng tin và phản ứng dây chuyền, mà hậu quả của nó còn nặng hơn cuộc khủng hoảng năm 1929. Gần đây nhất, thị trường chứng khoán ở các nước Đông Á, Nga và một số thị trường ở châu Mỹ cũng rơi vào vòng xoáy của cơn lốc khủng hoảng tài chính tiền tệ, giảm lòng tin và có tính chất lây lan, tạo ra sự suy giảm nghiêm trọng của các chỉ số giá chứng khoán. Các nhà đầu tư chứng khoán luôn đứng trước những rủi ro rất lớn và họ ý thức được rằng cần phải có công cụ bảo vệ mình trước sự biến động của thị trường.
Từ đó, các sản phẩm tài chính phái sinh ra đời và được sự quan tâm rất lớn của các nhà đầu tư. Lịch sử cho thấy rằng có thời kỳ giá trị giao dịch của các sản phẩm phái sinh mà đặc biệt là giá trị giao dịch quyền chọn đã vượt qua giá trị giao dịch của tài sản làm cơ sở. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 Quyền chọn là một trong những công cụ phái sinh được sử dụng khá phổ biến ở các nước có nền kinh tế phát triển, công cụ phái sinh này có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa rủi ro hữu hiệu trên thị trường tài chính nói chung và trên thị trường chứng khoán nói riêng.1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CHỌN 1.1 Quyền chọn Quyền chọn (Option) là hợp đồng giữa hai bên - người mua và người bán – trong đó người mua có quyền (không phải là nghĩa vụ) để mua hoặc bán một tài sản nào đó vào một ngày trong tương lai với giá cả được thỏa thuận vào ngày hôm nay. Tài sản được đề cập thường là cổ phiếu, trái phiếu, tiền, vàng hoặc là hàng hóa, … và các loại tài sản trừu tượng khác như chỉ số chứng khoán chẳng hạn.
Mức giá cố định mà người mua hợp đồng quyền chọn có thể mua hoặc bán tài sản được gọi là giá chốt, hay giá thực hiện. Một hợp đồng quyền chọn được thực hiện tại bất cứ thời điểm nào trước khi đáo hạn được gọi là quyền chọn theo kiểu Mỹ và chỉ có thể thực hiện được vào ngày đáo hạn thì được gọi là quyền chọn theo kiểu Châu Âu. Trong một hợp đồng quyền chọn có hai bên: mua quyền chọn và bán quyền chọn. Người mua quyền chọn trả cho người bán quyền chọn một số tiền gọi là phí quyền chọn.
Bên bán quyền chọn: là bên phát hành quyền chọn, sau khi thu phí quyền chọn phải có nghĩa vụ luôn sẵn sàng tiến hành giao dịch (mua hoặc bán) tài sản cơ sở đã thỏa thuận trong hợp đồng với bên mua – khi bên mua thực hiện quyền trong thời hạn đã thỏa thuận. Bên bán quyền chọn có lợi nhuận giới hạn (tối đa là phí quyền chọn), còn lỗ thì không giới hạn. Trên thị trường, có hai loại người bán quyền: người bán quyền chọn mua (Seller Call Option) và người bán quyền chọn bán (Seller Put Option) 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 Bên mua quyền chọn: là bên nắm giữ quyền chọn, và phải trả cho bên mua phí quyền chọn để được “quyền” mua hoặc bán một loại tài sản cơ sở nào đó. Trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng, bên mua có ba sự lựa chọn: (i) thực hiện hợp đồng quyền chọn nếu giá trên thị trường biến động theo hướng có lợi cho họ; (ii) bán hợp đồng quyền chọn cho bên thứ ba trên thị trường để hưởng chênh lệch giá; (iii) để quyền chọn tự động hết hiệu lực mà không tiến hành bất cứ một giao dịch mua bán nào nếu giá trên hợp đồng quyền chọn bất lợi hơn so với giá trên thị trường.
Trường hợp không thực hiện quyền chọn, họ vẫn bị mất phí mua quyền. Do vậy, bên mua quyền bị lỗ chỉ giới hạn bằng phí quyền chọn nhưng có lời thì không giới hạn. Có hai loại người mua quyền: người mua quyền chọn mua (Buyer Call Option) và người mua quyền chọn bán (Buyer Put Option) Giá quyền chọn (phí quyền chọn) thay đổi theo giá tài sản cơ sở và theo thời gian. Giá quyền chọn phải phản ánh được cơ hội mà hợp đồng này đem lại lợi nhuận cho người mua.
Do đó, nếu giá tài sản cơ sở càng biến động mạnh (volatile) và thời gian đáo hạn càng dài thì phí quyền chọn càng cao. Đối tượng tham gia mua bán quyền chọn rất đa dạng, bao gồm: những người đang sở hữu tài sản tham gia giao dịch nhằm phòng ngừa rủi ro và những người không sở hữu tài sản nào nhưng tham gia với mục đích đầu cơ kiếm lời.2 Các loại quyền chọn Một quyền chọn để mua tài sản với một mức giá thực hiện trước hay đúng vào ngày được ấn định gọi là quyền chọn mua (Call Option). Một quyền chọn cho phép chủ sở hữu của nó quyền bán tài sản với một mức giá ấn định trước đúng vào ngày được ấn định gọi là quyền chọn bán (Put Option).1 Quyền chọn mua Hợp đồng quyền chọn mua (Call Option) là một loại hợp đồng tài chính diễn ra giữa hai bên, cho phép người mua hợp đồng có quyền mua một số lượng tài sản nhất định ở một mức giá ấn định trước, gọi là "strike price" hoặc "exercise price" - 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 vào hoặc trước ngày đáo hạn của hợp đồng. Đổi lại, người mua hợp đồng (holder) phải trả cho người bán hợp đồng quyền chọn (writer) một khoản phí (call premium).
Nếu giá tài sản cơ sở tăng như dự đoán thì người mua hợp đồng sẽ thu được lợi nhuận trong khi chỉ phải đầu tư một khoản nhỏ (phí hợp đồng) hơn là phải bỏ tiền ra mua toàn bộ số tài sản đó, trường hợp này người ta nói hợp đồng quyền chọn mua có lãi (in-the-money call option), ngược lại hợp đồng quyền chọn mua bị lỗ (out-of-the money call option). Về phía người bán, anh ta chỉ thu được một khoản lợi tức bằng với phí quyền chọn, nhưng khi người mua thực hiện hợp đồng thì người bán sẽ bị lỗ không giới hạn. Nếu hợp đồng được thực hiện thì người bán sẽ phải từ bỏ quyền sở hữu đối với số tài sản đã xác định trong hợp đồng. Nếu người mua hợp đồng cảm thấy không có lợi anh ta có thể từ chối việc thực thi hợp đồng.
Trong hợp đồng quyền chọn mua, người mua bao giờ cũng kì vọng giá tài sản tăng trong khi người bán kì vọng giá tài sản đứng hoặc giảm hoặc cũng có trường hợp là do người bán sẵn sàng từ bỏ khoản lợi nhuận từ giá tài sản tăng để đổi lấy khoản phí thực hiện hợp đồng (được thanh toán ngay). Do có những nguồn thông tin khác nhau, cách phân tích, đánh giá khác nhau cho nên mới nảy sinh những kì vọng khác biệt giữa người mua và người bán, dẫn đến việc các hợp đồng quyền chọn (call option, put option) như thế này diễn ra. Vị thế của người mua, người bán và phí quyền chọn được mô tả bằng hình sau: Hình 1.