Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN VÀ QUYỀN NHÂN THÂN GẮN VỚI HÌNH ẢNH CỦA CÁ NHÂN 1. Khái niệm chung về quyền nhân thân của cá nhân 1. Khái niệm nhân thân Có thể nói rằng trong các vấn đề của xã hội loài người thì quyền con người nói chung và quyền công dân nói riêng là những vấn đề có tính lịch sử lâu đời cả về phương diện lí luận cũng như thực tiễn. Quyền công dân nói chung được chia làm năm nhóm: Nhóm các quyền chính trị, nhóm các quyền dân sự, nhóm các quyền kinh tế, nhóm các quyền văn hóa và nhóm các quyền xã hội và pháp luật dân sự là công cụ để thực hiện nhóm các quyền dân sự của công dân.
Mỗi cá nhân đều luôn có nhu cầu đảm bảo sự tồn tại và phát triển, kéo theo đó là các nhu cầu về tư tưởng, tinh thần, nó gắn liền với hai loại quyền đó là quyền về tài sản và các quyền về nhân thân. “Quyền nhân thân” là thuật ngữ pháp lý dùng để chỉ những quyền gắn liền với bản thân của mỗi con người, gắn liền với đời sống riêng tư của mỗi cá nhân và quyền này có liên quan mật thiết đến danh dự, nhân phẩm, uy tín. Do đó quyền nhân thân là một quyền rất quan trọng trong các quyền dân sự, cũng bởi chính lý do này mà quyền nhân thân là một trong những nội dung cơ bản của quyền con người đã được pháp luật thế giới nói chung và pháp luật Việt Nam thừa nhận và bảo vệ. Để hiểu rõ hơn về quyền nhân thân của cá nhân thì trước hết chúng ta cùng làm rõ khái niệm “nhân thân”.
Khái niệm “nhân thân” được hiểu theo hai khía cạnh sau đây. Một là: theo từ điển Tiếng Việt “Nhân thân được hiểu là tổng hợp các đặc điểm về thân thể, tính cách và cuộc sống cá nhân của con người, về mặt thi hành pháp luật” [24]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hai là: Dưới góc độ pháp lý thì hiện nay chưa có văn bản nào đề cập đến khái niệm “nhân thân”, xong chúng ta có thể tham khảo khái niệm nhân thân đề cập đến trong công trình nghiên cứu cấp bộ với đề tài: Vai trò của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền nhân thân của công dân theo quy định của BLDS của Tòa án nhân dân tối cao thì: Nhân thân của một người bao gồm các đặc điểm sau: giới tính, độ tuổi, dân tộc, thành phần văn hóa, nghề nghiệp, điều kiện sống, hoàn cảnh gia đình, quá trình hoạt động chính trị xã hội, tính tình, tác phong.Mỗi người có một nhân thân riêng và chính nó biểu thị đặc điểm liên quan đến nhận thức và hành vi của từng người. Như vậy khái niệm nhân thân được hiểu là một khái niệm rộng, bao trùm nhiều đặc điểm khác nhau, và quan trọng nhất là các đặc điểm này phải liên quan mật thiết đến một cá nhân cụ thể.
Khái Niệm quyền nhân thân Quyền nhân thân của cá nhân là quyền dân sự gắn liền với đời sống tinh thần của cá nhân được pháp luật thừa nhân và bảo vệ. Trong lịch sử lập pháp của nước ta nói chung và pháp luật dân sự nói riêng, thuật ngữ quyền nhân thân được ra đời khá muộn. BLDS Việt Nam 1995 là văn bản pháp lí lần đầu tiên đề cập đến quyền nhân thân, đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình hiện thực hóa quyền con người. Lần đầu tiên pháp luật Việt Nam xác định rằng: Quyền nhân thân của cá nhân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Không ai có thể lạm dụng quyền nhân thân của mình xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác [25]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bên cạnh đó, lần đầu tiên cá nhân có cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền nhân thân của mình không bị người khác vi phạm (Điều 27). Lần đầu tiên quyền nhân thân của cá nhân được quy định thành một hệ thống các quyền, có 20 quyền được quy định chi tiết trong 20 Điều luật. BLDS năm 1995 đã góp phần làm ổn định các quan hệ dân sự nói chung, quan hệ nhân thân nói riêng, các chủ thể có được công cụ pháp lý hữu hiệu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các quan hệ xã hội, các quan hệ dân sự ngày càng phức tạp hơn, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi những giá trị thuộc về tinh thần đang dần tìm được chỗ đứng quan trọng trong đời sống cá nhân. Với những quyền nhân thân được quy định trong BLDS năm 1995 so với thực tiễn đã có những sự thiếu hụt rất lớn, việc sửa đổi BLDS năm 1995 là tất yếu xảy ra. Từ đó sự ra đời của BLDS 2005 đã kế thừa những quy định về nhân thân trong BLDS năm 1995 và đã quy định cụ thể về quyền nhân thân tại Điều 24: "Quyền nhân thân được quy định trong Bộ Luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” [28, Điều 24]. Theo quy định tại điều luật này thì quyền nhân thân sẽ có hai đặc điểm: Một là: Quyền nhân thân mang đặc tính quyền cá nhân, không bị chi phối, phụ thuộc bởi bất kỳ yếu tố khách quan nào như: Độ tuổi, trình độ văn hóa, giới tính, tôn giáo, địa vị xã hội.cũng bởi điều này mà pháp luật quy định mọi chủ thể đều bình đẳng về quyền nhân thân.
Hai là: Quyền nhân thân của chủ thể không thể chuyển dịch cho chủ thể khác được. Nghĩa là: Quyền nhân thân không thể là đối tượng trong giao dịch dân sự (mua, bán, tặng, cho. Tuy nhiên trong một số trường hợp quyền nhân thân có thể được chuyển giao cho người khác theo quy định của pháp luật. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ví dụ: Quyền công bố, phổ biến tác phẩm của tác giả, khi tác giả chết thì quyền này có thể chuyển giao cho chủ thể khác hay các quyền khác về tinh thần của tác giả đối với tác phẩm như quyền được tôn trọng tác phẩm.
Hoặc các quyền nhân thân gắn liền với tài sản có thể được phép chuyển giao. Nhìn vào hai đặc điểm này của quyền nhân thân thì chúng ta thấy một vấn đề đặt ra là: Nếu như theo quy định trên thì quyền nhân thân chỉ gắn liền với mỗi cá nhân cụ thể thì theo quy định tại Điều 604 và Điều 611 BLDS năm 2005 đã đề cập đến: “Danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác” [28]. Vậy, một vấn đề đặt ra là những quyền được quy định tại hai Điều luật trên đây của pháp nhân và chủ thể khác có được xem là quyền nhân thân không? Và nếu pháp nhân và chủ thể khác cũng là chủ thể của quyền nhân thân thì liệu đặc tính “Quyền cá nhân hóa” trong quyền nhân thân có còn tồn tại? Tại Điều 1 Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định rằng: Thiệt hại do tổn thất của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin. vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu [7, Điều 1].
Như vậy: Theo quy định tại Nghị định này đã thừa nhận các quyền nhân thân đối với pháp nhân và các chủ thể khác. Từ việc phân tích trên đây cho thấy quyền nhân thân có thể mở rộng phạm vi chủ thể quyền nhân thân không chỉ bao hàm cá nhân mà còn bao gồm các chủ thể khác như: pháp nhân, tổ chức. Thông qua các quy định trong BLDS, cũng như các quy định của các văn bản pháp luật khác thì chưa có một khái niệm về quyền nhân thân một cách rõ ràng. Tính đến thời điểm hiện nay thì khái niệm này mới chỉ được trình bày trong các công trình nghiên cứu khoa học như: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một là: Trong bài viết “Khái niệm và phân loại quyền nhân thân” của Tiến sĩ Bùi Đăng Hiếu – Trường Đại học Luật Hà Nội đăng trên tạp chí luật học số 7 năm 2009 thì: “Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với đời sống tinh thần của mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho chủ thể khác, trừ tường hợp pháp luật có quy định khác” [13].
Hai là: Trong đề tài nghiên cứu cấp trường “Quyền nhân thân của con người và bảo vệ quyền nhân thân của con người và bảo vệ quyền nhân thân theo quy định của pháp luật” của tiến sĩ Lê Đình Nghị đã đưa ra khái niệm quyền nhân trên hai phương diện như sau: Theo nghĩa khách quan, quyền nhân thân được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, trong đó có nội dung quy định rõ các cá nhân có các quyền nhân thân gắn liền với bản thân mình và đây là cơ sở để cá nhân thực hiện các quyền của mình. Theo nghĩa chủ quan, quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền với cá nhân do nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và các cá nhân không thể chuyển giao quyền này cho người khác [20]. Ba là: Trong luận văn thạc sĩ luật học “Quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân theo quy định trong BLDS năm 2005” của tác giả Lê Thị Hoa đã đưa ra khái niệm: “Quyền nhân thân của cá nhân là quyền dân sự gắn liền với đời sống tinh thần của cá nhân được pháp luật thừa nhận và bảo vệ” [15]. Qua việc phân tích, cũng như tham khảo các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu khái niệm quyền nhân thân như sau: Quyền nhân thân là quyền dân sự cho nhà nước quy định gắn liền với giá trị tinh thần của mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao trừ trường hợp pháp luật quy định khác.
Từ khái niệm trên đây rút ra một số đặc điểm của quyền nhân thân là 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất: Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản Nếu như nhắc đến quyền tài sản thì chúng ta sẽ nghĩ ngay đến tính chất tài sản, nó được xác định bằng một giá trị vật chất nhất định, theo nguyên tắc đền bù ngang giá.