QUYỀN AN SINH XÃ HỘI TRONG LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Nghiên cứu quyền an sinh xã hội dưới góc độ luật nhân quyền quốc tế và pháp luật Việt Nam. Phân tích, so sánh và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Chuyên ngành

Pháp Luật Về Quyền Con Ngƣời

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2023

96
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quyền An Sinh Xã Hội Định Nghĩa Ý Nghĩa

An sinh xã hội (ASXH) là một khái niệm rộng, cấp thiết, gắn liền với đời sống công dân và là mục tiêu chung của mọi quốc gia trong bối cảnh quyền con người. ASXH, theo nghĩa hiện đại, là các chương trình hành động của nhà nước nhằm thúc đẩy phúc lợi của người dân thông qua các biện pháp hỗ trợ, đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn lực đầy đủ về thực phẩm, nhà ở, sức khỏe, đặc biệt cho các đối tượng như trẻ em, người già, người bệnh, người thất nghiệp và các đối tượng yếu thế. Trong lịch sử, ý tưởng về ASXH và các chương trình hỗ trợ đã xuất hiện từ rất sớm, ban đầu chỉ mang tính tự phát, nhưng sau đó, từ cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, đã phát triển thành các chương trình do nhà nước tổ chức thực hiện với phạm vi ngày càng rộng. Nhận thức về ASXH cũng thay đổi theo thời gian, từ một hình thức trợ giúp mang tính nhân đạo đến một trong những quyền cơ bản của con người, gắn liền với trách nhiệm của quốc gia đối với công dân.

1.1. Khái Niệm và Bản Chất của An Sinh Xã Hội

An sinh xã hội (ASXH) được hiểu là một hệ thống các chính sách và chương trình của nhà nước nhằm bảo vệ và hỗ trợ các thành viên trong xã hội, đặc biệt là những người gặp khó khăn hoặc rủi ro trong cuộc sống. Bản chất của ASXH là sự chia sẻ trách nhiệm giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc đảm bảo cuộc sống ổn định và có chất lượng cho mọi người. ASXH không chỉ là sự hỗ trợ về mặt vật chất mà còn bao gồm các dịch vụ y tế, giáo dục và các hỗ trợ tinh thần khác. Theo tài liệu, ASXH được hiểu là các chương trình hành động của nhà nước nhằm thúc đẩy phúc lợi của người dân thông qua các biện pháp hỗ trợ đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn lực đầy đủ về thực phẩm, nơi trú ẩn (nhà ở), tăng cường sức khỏe… đặc biệt cho những đối tượng như trẻ em, người già, người bệnh, người thất nghiệp, các đối tượng yếu thế, đặc biệt v.v…

1.2. Vai Trò của Quyền An Sinh Xã Hội trong Xã Hội Hiện Đại

Quyền ASXH đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự công bằng và bình đẳng trong xã hội. Nó giúp giảm thiểu tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng, đồng thời tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội phát triển và tham gia vào các hoạt động kinh tế, xã hội. Quyền ASXH cũng góp phần tăng cường sự ổn định chính trị và xã hội, tạo dựng niềm tin của người dân vào nhà nước và hệ thống pháp luật. Quyền ASXH được thể hiện trong Điều 34 của Hiến pháp 2013 quy định “Công dân có quyền được bảo đảm ASXH” và được cụ thể hóa trong nhiều nghành luật ngách khác như Luật bảo hiểm xã hội, Luật bảo hiểm y tế, Luật bảo hiểm thất nghiệp, Luật Lao động, Luật nhà ở v.v…

II. Phân Tích Luật Nhân Quyền Quốc Tế về Quyền An Sinh Xã Hội

Luật nhân quyền quốc tế (LHQQT) coi quyền ASXH là một trong những quyền cơ bản của con người. Nhiều công ước quốc tế, như Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR), đã quy định rõ về quyền này và các nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc thực hiện nó. LHQQT nhấn mạnh rằng quyền ASXH không chỉ là quyền được hưởng các phúc lợi vật chất mà còn là quyền được sống trong một xã hội mà ở đó mọi người đều có cơ hội để phát triển và tham gia vào các hoạt động kinh tế, xã hội. Việt Nam cũng đã tham gia nhiều công ước về quyền con người mà đề cập đến quyền ASXH như: Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (ICCPR); Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (ICESCR) “Các quốc gia thành viên Công ước này thừa nhận quyền của mọi người được hưởng ASXH, kể cả bảo hiểm xã hội” Điều 9...

2.1. Nội Dung Cụ Thể của Quyền An Sinh Xã Hội theo LHQQT

Theo LHQQT, quyền ASXH bao gồm nhiều khía cạnh, từ quyền được hưởng bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội, hỗ trợ thất nghiệp đến quyền được chăm sóc sức khỏe, giáo dục và nhà ở. Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ đảm bảo rằng mọi người, đặc biệt là những người yếu thế, đều có thể tiếp cận được các dịch vụ ASXH một cách công bằng và hiệu quả. Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ đảm bảo rằng mọi người, đặc biệt là những người yếu thế, đều có thể tiếp cận được các dịch vụ ASXH một cách công bằng và hiệu quả. Công ước về quyền trẻ em(CRC) tại Điều 26 ghi nhận“1. Các quốc gia thành viên thừa nhận mọi trẻ em đều có quyền hưởng ASXH, kể cả bảo hiểm xã hội, và phải thi hành những biện pháp cần thiết để thực hiện đầy đủ quyền này phù hợp với pháp luật nước mình.

2.2. Tiêu Chuẩn Quốc Tế về Thực Hiện Quyền An Sinh Xã Hội

LHQQT đặt ra các tiêu chuẩn cụ thể về việc thực hiện quyền ASXH, bao gồm tính sẵn có, tính tiếp cận, tính chấp nhận và tính thích ứng của các dịch vụ ASXH. Các quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng các dịch vụ ASXH có sẵn cho mọi người, dễ dàng tiếp cận, phù hợp với nhu cầu của người dân và được cung cấp một cách tôn trọng nhân phẩm của họ. Công ước về quyền người khuyết tật (CRPD)“2. Quốc gia thành viên công nhận quyền của người khuyết tật được hưởng phúc lợi xã hội và được hưởng quyền đó mà không có sự phân biệt đối xử trên cơ sở sự khuyết tật, và tiến hành các bước thích hợp để bảo vệ và thúc đẩy việc biến quyền này thành hiện thực, trong đó có các biện pháp...

III. Pháp Luật Việt Nam Về Quyền An Sinh Xã Hội Thực Trạng

Hiến pháp Việt Nam ghi nhận quyền ASXH của công dân, và nhiều luật khác nhau, như Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Việc làm, đã cụ thể hóa quyền này. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn nhiều thách thức trong việc đảm bảo quyền ASXH cho mọi người dân, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa và đối với các nhóm dân tộc thiểu số. Mặc dù đã có nhiều cải thiện, hệ thống ASXH của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế so với các tiêu chuẩn quốc tế. Tại Việt Nam, quyền ASXH được thể hiện trong Điều 34 của Hiến pháp 2013 quy định “Công dân có quyền được bảo đảm ASXH” và được cụ thể hóa trong nhiều nghành luật ngách khác như Luật bảo hiểm xã hội, Luật bảo hiểm y tế, Luật bảo hiểm thất nghiệp, Luật Lao động, Luật nhà ở v.v…

3.1. Các Quy Định Pháp Luật Cụ Thể về An Sinh Xã Hội ở Việt Nam

Pháp luật Việt Nam quy định về nhiều chế độ ASXH, bao gồm bảo hiểm xã hội (hưu trí, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp), bảo hiểm y tế, trợ cấp thất nghiệp, trợ giúp xã hội và các chương trình giảm nghèo. Các quy định này nhằm đảm bảo rằng mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận các dịch vụ ASXH cần thiết để duy trì cuộc sống và phát triển bản thân. Năm 2014 Luật BHXH (đã được sửa đổi bổ sung) quy định về hệ thống BHXH, bao gồm các chế độ hưu trí, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Sức khỏe và bảo hiểm thất nghiệp được quy định cụ thể hợn. Hay luật BHYT 2008 và nghị định về BHYT có quy định về chế độ bảo hiểm y tế cho người lao động và gia đình đi kèm nữa.

3.2. Những Hạn Chế và Thách Thức Trong Thực Thi Quyền ASXH tại Việt Nam

Việc thực thi quyền ASXH tại Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn do nguồn lực hạn chế, hệ thống quản lý chưa hiệu quả, nhận thức của người dân về quyền ASXH còn thấp và sự phân biệt đối xử trong việc tiếp cận các dịch vụ ASXH. Thêm vào đó, đại dịch COVID-19 đã làm gia tăng các thách thức này, khiến nhiều người dân mất việc làm, thu nhập giảm sút và không thể tiếp cận các dịch vụ ASXH cần thiết. Về chính sách giảm nghèo và hỗ trợ xã hội được thực hiện cụ thể hơn bằng các Luật phòng chống nghèo năm 2010 và Hỗ trợ xã hội năm 2012 trong đó nêu chi tiết các quy định về chính sách giảm nghèo và các biện pháp hỗ trợ xã hội. Năm 2009 thì Luật người cao tuổi quy định về chính sách và quyền lợi nghĩa vụ của người cao tuổi.

IV. So Sánh Quyền An Sinh Xã Hội Việt Nam và Luật Quốc Tế

So sánh pháp luật Việt Nam và luật nhân quyền quốc tế về quyền ASXH cho thấy có nhiều điểm tương đồng, nhưng cũng có những khác biệt đáng kể. Việt Nam đã nội luật hóa nhiều quy định của LHQQT về quyền ASXH, nhưng vẫn còn một số quy định chưa được cụ thể hóa hoặc chưa phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Cần có những nỗ lực hơn nữa để hoàn thiện pháp luật Việt Nam và đảm bảo rằng mọi người dân đều được hưởng đầy đủ quyền ASXH của mình. Việt Nam cũng đã tham gia nhiều công ước về quyền con người mà đề cập đến quyền ASXH như: Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (ICCPR); Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (ICESCR) “Các quốc gia thành viên Công ước này thừa nhận quyền của mọi người được hưởng ASXH, kể cả bảo hiểm xã hội” Điều 9...

4.1. Điểm Tương Đồng và Khác Biệt Trong Quy Định Pháp Luật

Pháp luật Việt Nam và LHQQT đều ghi nhận quyền ASXH là một trong những quyền cơ bản của con người. Tuy nhiên, LHQQT quy định chi tiết hơn về các khía cạnh khác nhau của quyền ASXH và đặt ra các tiêu chuẩn cao hơn về việc thực hiện quyền này. Pháp luật Việt Nam cũng còn hạn chế về phạm vi bảo vệ và mức độ hỗ trợ của các chế độ ASXH. Về lao động thì có Luật lao động và nghị định về lao động quy định về quyền và nghĩa vụ của người lao động, bao vệ quyền lợi của người lao động và các vấn đề liên quan đến quyền ASXH cho người lao động.

4.2. Đánh Giá Mức Độ Tương Thích và Không Tương Thích

Mặc dù pháp luật Việt Nam đã có nhiều tiến bộ trong việc bảo đảm quyền ASXH, vẫn còn một số quy định chưa hoàn toàn tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế. Ví dụ, một số đối tượng yếu thế chưa được bao phủ đầy đủ bởi các chế độ ASXH, và mức hưởng trợ cấp còn thấp so với mức sống tối thiểu. Cần có những đánh giá khách quan và toàn diện để xác định các điểm không tương thích và đề xuất các giải pháp khắc phục. Chính sách cho người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thì cho Luật hỗ trợ xã hội và Luật trợ cấp xã hội năm 2015 quy định về chính sách hỗ trợ xã hội cho các đối tượng đặc biệt khó khăn.

V. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Việt Nam về An Sinh Xã Hội

Để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và đáp ứng nhu cầu của người dân, cần có những giải pháp đồng bộ để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về ASXH. Các giải pháp này bao gồm việc mở rộng phạm vi bao phủ của các chế độ ASXH, nâng cao mức hưởng trợ cấp, cải thiện hệ thống quản lý, tăng cường nhận thức của người dân về quyền ASXH và thúc đẩy sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự vào việc bảo đảm quyền ASXH. Trong bối cảnh đó, học viên quyết định chọn vấn đề “Quyền ASXH trong luật Nhân quyền quốc tế và pháp luật Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ với mong muốn góp phần vào việc đánh giá và đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền được hưởng ASXH.

5.1. Sửa Đổi và Bổ Sung Các Quy Định Pháp Luật Hiện Hành

Cần rà soát và sửa đổi các quy định pháp luật hiện hành về ASXH để đảm bảo rằng chúng phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và đáp ứng nhu cầu của người dân. Cần bổ sung các quy định về quyền của các nhóm yếu thế, các chế tài đối với hành vi vi phạm quyền ASXH và cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền ASXH.

5.2. Tăng Cường Nguồn Lực và Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý

Để thực hiện hiệu quả quyền ASXH, cần tăng cường nguồn lực tài chính và nhân lực cho hệ thống ASXH. Cần nâng cao hiệu quả quản lý, đảm bảo tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách ASXH.

VI. Tương Lai Của Quyền An Sinh Xã Hội tại Việt Nam Hướng Tới

Hướng tới một tương lai mà mọi người dân Việt Nam đều được hưởng đầy đủ quyền ASXH, cần có sự cam kết mạnh mẽ từ phía nhà nước, sự tham gia tích cực của cộng đồng và sự hợp tác chặt chẽ với các tổ chức quốc tế. Với những nỗ lực chung, Việt Nam có thể xây dựng một hệ thống ASXH toàn diện, công bằng và bền vững, góp phần vào sự phát triển kinh tế, xã hội và bảo đảm quyền con người.

6.1. Vai Trò của Hội Nhập Quốc Tế trong Phát Triển ASXH

Hội nhập quốc tế có thể mang lại nhiều cơ hội cho Việt Nam trong việc phát triển hệ thống ASXH, bao gồm việc tiếp cận các nguồn lực tài chính, kỹ thuật và kinh nghiệm quốc tế. Cần chủ động tham gia vào các diễn đàn quốc tế về ASXH, học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển và xây dựng quan hệ đối tác với các tổ chức quốc tế để thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ASXH tại Việt Nam.

6.2. Xã Hội Dân Sự và Sự Tham Gia Của Cộng Đồng

Các tổ chức xã hội dân sự đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát việc thực hiện quyền ASXH, cung cấp dịch vụ cho các nhóm yếu thế và vận động chính sách. Cần tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội dân sự tham gia vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách ASXH, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân về quyền ASXH và khuyến khích họ tham gia vào việc bảo vệ và thúc đẩy quyền này.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/04/2025
Quyền an sinh xã hội trong luật nhân quyền quốc tế và pháp luật việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền an sinh xã hội Chương 2: Quyền an sinh xã hội trong luật nhân quyền quốc tế và pháp luật Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt Nam về quyền an sinh xã hội 7 phù hợp với luật nhân quyền quốc tế. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN AN SINH XÃ HỘI VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TƢƠNG THÍCH VÀ KHÔNG TƢƠNG THÍCH VỀ QUYỀN AN SINH XÃ HỘI TRONG LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM. Khái niệm an sinh xã hội và quyền an sinh xã hội 1. Khái niệm an sinh xã hội.

An sinh xã hội(ASXH) là một khái niệm đƣợc quan tâm rộng rãi trên thế giới và có xuất phát từ các quan niệm về quyền con ngƣời. Ngày 14 tháng 8 năm 1935 ở Mỹ có Đạo luật về ASXH là đầu tiên trên thế giới, đã thiết lập một hệ thống an sinh hỗ trợ cho ngƣời già nghỉ hƣu, phụ nữ, trẻ em và những ngƣời khuyết tật [5] Đến năm 1938, khái niệm ASXH xuất hiện trong một đạo luật của New Zealand. Khái niệm này sau đó tiếp tục đƣợc đề cập trong Hiến chƣơng Đại Tây Dƣơng(năm 1941) và đƣợc Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) chính thức sử dụng trong các công ƣớc của mình [1]. Khái niệm ASXH sau đó đƣợc hàm chứa trong nội dung của nhiều văn kiện 8 quốc tế về quyền con ngƣời.

Cụ thể, Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền do Liên Hiệp Quốc thông qua vào năm 1948 đã khẳng định: “Tất cả mọi con ngƣời đều đƣợc sinh ra tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền lợi. Họ đều đƣợc ban cho lý trí và lƣơng tâm, và nên đối xử với nhau trong tinh thần huynh đệ” [6]. Công ƣớc về Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của Liên Hiệp Quốc ICESCR (1966) cũng khẳng định rằng, tất cả mọi ngƣời có quyền đƣợc tham gia vào cuộc sống văn hóa, tận hƣởng tiến bộ khoa học và kết quả của tiến bộ khoa học và công nghệ, có quyền đƣợc hƣởng các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, bao gồm quyền đƣợc hƣởng an sinh xã hội [7]. Nhiều công ƣớc của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) cũng đề cập đến quyền đƣợc hƣởng cuộc sống tốt đẹp và các quyền liên quan đến an sinh xã hội.

Ví dụ, theo Điều 9 của Công ƣớc ILO số 102 về Bảo vệ xã hội tối thiểu,mọi quốc gia đều cần đƣa ra các biện pháp nhằm đảm bảo tối thiểu các quyền liên quan đến an sinh xã hội cho công dân [8]. Tuy nhiên, những văn bản pháp luật nhân quyền quốc tế nêu trên chƣa nêu ra định nghĩa về ASXH. Trong thực tế, khái niệm ASXH, xuất phát từ lợi ích, quan niệm và phƣơng thức thực hiện mà có nhiều quan niệm khác nhau về ASXH và cũng không hoàn toàn đƣợc hiểu một cách đồng nhất ở các quốc gia. Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Hải Hữu định nghĩa: ASXH là một hệ thống các cơ chế, chính sách, biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho họ có nguy cơ suy giảm, mất nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khách quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ và cung cấp các dịch vụ sức khoẻ cho cộng đồng.

bằng hệ thống mạng lưới về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp xã hội [9]. Trong khi đó, xuất phát từ góc độ triết học, tác giả Hoàng Chí Bảo cho rằng: An sinh xã hội là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho phát triển con người và xã hội. ASXH là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong 9 hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách [10].Theo tác giả Mai Ngọc Cƣờng, ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch hoạ [11]. Cùng quan điểm, tác giả Lê Thị Hoài Thu đƣa ra khái niệm ASXH là sự bảo vệ, trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng đối với người “yếu thế” trong xã hội bằng các biện pháp khác nhau nhằm hỗ trợ cho các đối tượng khi họ bị suy giảm khả năng lao động, giảm sút thu nhập hoặc là bị rủi ro, bất hạnh, hoặc là trong tình trạng nghèo đói, hoặc là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, mất sức lao động, già yếu.

động viên, khuyến khích tự lực vươn lên giải quyết vấn đề của chính họ [12]. Nguyên Thủ tƣớng Nguyễn Tấn Dũng trong một bài báo đăng trên Tạp chí Cộng sản với nhan đề: "Đảm bảo ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020”, thì cho rằng "ASXH là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân” [13] Trong cuốn ASXH Việt Nam hƣớng tới 2020, tác giả Vũ Văn Phúc quan niệm: “ASXH là sự bảo đảm thực hiện các quyền để con ngƣời đƣợc an bình, bảo đảm an ninh, an toàn trong xã hội…Bản chất của ASXH là tạo ra lƣới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên trong xã hội trong trƣờng hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay gặp phải những rủi ro khác” [14]. Tác giả Nguyễn Hữu Dũng, trong bài viết “Hệ thống ch nh sách an sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và định hƣớng phát triển” [9] thì mô tả khái quát quan điểm của ESCAP về hệ thống ASXH nhƣ sau: 10 Bảng 1. Mô hình khái quát hệ thống ASXH do ESCAP đƣa ra (Nguồn: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2009) Từ những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa: ASXH là hệ thống các chính sách và chương trình do nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội thực hiện, nhằm bảo vệ tất cả người dân trước những rủi ro kinh tế và xã hội như thất nghiệp, bệnh tật hay tuổi già, đảm bảo cho mọi người dân ít nhất có được mức tối thiểu về thu nhập, có cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu, như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin.nhằm đảm bảo quyền sống cơ bản của con người trong những tình huống không mong muốn để chất lượng cuộc sống được nâng lên, mỗi công dân có được sự tự tin, yên tâm và hạnh phúc.2 Khái niệm quyền an sinh xã hội Khi xem xét về nguồn gốc, lịch sử phát triển của quyền con ngƣời, Karel Vasak, một luật gia ngƣời Cộng hòa Séc, vào thập niên 1970, đã đƣa ra ý tƣởng về “các thế hệ quyền con ngƣời”.

Theo đó, thế hệ thứ nhất là các quyền dân sự, chính trị, thế hệ thứ hai là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, và thế hệ thứ ba là các quyền tập thể 11 [15]. Các quyền kinh tế, xã hội, trong đó có quyền đƣợc hƣởng ASXH, thuộc thế hệ nhân quyền thứ hai. Quyền đƣợc hƣởng ASXH và nội hàm của nó có lịch sử phát triển lâu đời, thể hiện qua pháp luật của một số nƣớc sớm quan tâm đến lĩnh vực này, đó là: Anh quốc – đã ban hành Luật về ngƣời nghèo (the Poor Law) năm 1601, Luật về ngƣời nghèo sửa đổi (the Poor Law Amendment Act) năm 1834 (PLAA), Luật cứu trợ quốc gia (the National Assistance Act) năm 1948; Hoa Kỳ - Luật An sinh xã hội (Social Security Act) năm 1935; Pháp - ngay trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1789 đã khẳng định rằng “mọi công dân đƣợc sinh ra đều có quyền tự do, bình đẳng và có quyền đƣợc bảo vệ cuộc sống và tài sản của mình” [16]. Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 cũng nêu rõ “tất cả con ngƣời sinh ra đều bình đẳng, họ đƣợc Đấng Sáng tạo ban cho những quyền không thể bị xâm phạm nhƣ quyền sống, quyền đƣợc tự do và quyền mƣu cầu hạnh phúc” [17].

Ở cấp độ quốc tế, lần đầu tiên quyền này đƣợc khẳng định một cách rõ ràng dƣới góc độ quyền con ngƣời tại Tuyên bố Philadelphia năm 1944, trong đó kêu gọi mở rộng “các biện pháp ASXH để cung cấp thu nhập cơ bản cho tất cả mọi ngƣời cần sự bảo vệ và cần sự chăm sóc y tế toàn diện” [18]. Sau đó, quyền này tiếp tục đƣợc ghi nhận với tƣ cách là một quyền cơ bản của con ngƣời trong Tuyên ngôn Nhân quyền phổ quát (UDHR, năm 1948) và một số công ƣớc quốc tế khác về nhân quyền do Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua. Điều 22 UDHR khẳng định: “Với tƣ cách là thành viên của xã hội, mọi ngƣời đều có quyền đƣợc hƣởng ASXH cũng nhƣ đƣợc thực hiện các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa không thể thiếu đối với nhân phẩm và tự do phát triển nhân cách của mình, thông qua nỗ lực quốc gia, hợp tác quốc tế và phù hợp với hệ thống tổ chức khu vực và nguồn lực của mỗi quốc gia”. Theo Bình luận chung số 16 của Uỷ ban về các Quyền kinh tế, xã hội, văn hoá (cơ quan giám sát thực hiện ICESCR), ASXH đóng vai trò quan trọng trong việc tái phân phối, thúc đẩy xóa đói giảm nghèo, ngăn 12 chặn trình trạng bị gạt ra bên lề của sự phát triển, hòa nhập xã hội, đảm bảo nhân phẩm cho tất cả mọi ngƣời, đặc biệt khi họ gặp phải những hoàn cảnh khó khăn và những biến cố không lƣờng trƣớc trong cuộc sống.

Cũng tại Điều 9 ICESCR (năm 1966) nêu rằng: “Các quốc gia thành viên Công ƣớc này thừa nhận quyền của mọi ngƣời đƣợc hƣởng ASXH, kể cả BHXH”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ