lời mở đầu và kết luận, đề tài đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng gồm: Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về quy trình tạm nhập tái xuất Chƣơng 3: Thực trạng quy trình tạm nhập tái xuất hàng hóa của Công ty TNHH Đầu tƣ Phát triển LATA. Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quy trình tạm nhập tái xuất hàng hóa của Công ty TNHH Đầu tƣ Phát triển LATA. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH TẠM NHẬP TÁI XUẤT 2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động tạm nhập tái xuất 2.
Khái niệm hoạt động tạm nhập tái xuất Tạm nhập tái xuất là một trong những hình thức kinh doanh lâu đời và phổ biến trong thƣơng mại quốc tế, bao gồm hai quy trình tạm nhập và tái xuất hàng hóa. Trong đó, tạm nhập có thể hiểu nghĩa đơn giản, là việc nhập khẩu hàng hóa trong một thời gian ngắn hạn vào lãnh thổ Việt Nam nhƣng không nhằm mục đích lƣu thông tại thị trƣờng Việt Nam. Sau một thời gian ngắn, hàng hóa tạm nhập sẽ đƣợc xuất khẩu sang quốc gia thứ ba. Theo công ƣớc quốc tế về đơn giản hóa và hài hòa thủ tục hải quan: “tạm nhập là thủ tục hải quan mà theo đó một số loại hàng hóa nhất định có thể đưa vào biên giới hải quan một cách có điều kiện và có thể được miễn toàn bộ thuế hoặc một phần nguyên liệu làm nên sản phẩm.” Tái xuất là quá trình tiếp sau của tạm nhập.
Hiện nay, mỗi quốc gia có một định nghĩa riêng về tái xuất nhƣng có thể tựu trung nhƣ sau: Tái xuất là xuất khẩu ra nƣớc ngoài những hàng hóa đã nhập khẩu trƣớc đây nhƣng chƣa qua gia công chế biến ở nƣớc tái xuất. Giao dịch tái xuất có thể đƣợc thực hiện bằng một trong hai hình thức: tái xuất thực nghĩa và chuyển khẩu. Tái xuất thực nghĩa là giao dịch mà hàng hóa đi từ bên xuất khẩu đến bên tái xuất, rồi lại đƣợc xuất khẩu từ bên tái xuất sang bên nhập khẩu. Ngƣợc chiều với sự vận động của hàng hóa là sự vận động của đồng tiền: Bên tái xuất trả tiền cho bên xuất khẩu và thu tiền của bên nhập khẩu.
Tại Việt Nam, tái xuất thực nghĩa thƣờng đƣợc gọi là tạm nhập tái xuất do hình thức này phát triển phổ biến hơn. Hình thức thứ hai của giao dịch tái xuất là chuyển khẩu. Trong nghiệp vụ chuyển khẩu, hàng hóa sẽ đi thẳng từ ngƣời xuất khẩu sang ngƣời nhập khẩu. Ngƣời tái xuất trả tiền cho ngƣời xuất khẩu và thu tiền của ngƣời nhập khẩu.
Theo quy định tại Điều 30 Luật Thƣơng mại 2005 của Việt Nam thì khái niệm chuyển khẩu hàng hoá đƣợc quy định cụ thể nhƣ sau: “Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nƣớc, vùng lãnh thổ để bán sang một nƣớc, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam.” 6 Hiện nay, hình thức chuyển khẩu đƣợc thể hiện chủ yếu dƣới ba dạng. Một là, hàng hóa đƣợc vận chuyển thẳng từ nƣớc xuất khẩu đến nƣớc nhập khẩu không qua cửa khẩu Việt Nam. Hai là, hàng hóa đƣợc chuyển từ nƣớc xuất khẩu đến nƣớc nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam nhƣng không làm thủ tục nhập khẩu về Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam. Ba là, hàng hóa đƣợc vận chuyển từ nƣớc xuất khẩu đến nƣớc nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam và đƣa vào kho ngoại quan, không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam.
Trong bài khóa luận này, chúng ta tập trung tìm hiểu các quy định pháp luật về quy trình tạm nhập tái xuất thông qua kho ngoại quan, so sánh với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp. Đặc điểm hoạt động tạm nhập tái xuất Phƣơng thức kinh doanh tạm nhập tái xuất còn đƣợc gọi là phƣơng thức giao dịch ba bên hoặc giao dịch tam giác, vì trong giao dịch luôn có sự tham gia của ba bên: nƣớc xuất khẩu, nƣớc tái xuất và nƣớc nhập khẩu. Cơ sở pháp lý của hình thức tạm nhập tái xuất là “Hai hợp đồng riêng biệt: Hợp đồng mua hàng do thƣơng nhân Việt Nam ký với thƣơng nhân nƣớc xuất khẩu, và hợp đồng bán hàng do thƣơng nhân Việt Nam ký thƣơng nhân nƣớc nhập khẩu. Hợp đồng mua hàng có thể đƣợc ký trƣớc hoăc sau hợp đồng bán hàng”.
Mục đích của các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa tạm nhập tái xuất là nhằm thu về một nguồn ngoại tệ lớn hơn so với số vốn ban đầu, đồng thời hƣởng các ƣu đãi về thuế quan dành hàng hóa tạm nhập tái xuất. Đặc biệt, hàng hóa kinh doanh theo phƣơng thức tạm nhập tái xuất phải là hàng hóa chƣa qua gia công và chế biến tại nƣớc tái xuất. Hàng hóa tái xuất theo hình thức tái xuất thực nghĩa hoặc chuyển khẩu thì đều chịu sự giám sát của hải quan cho tới khi thực sự tái xuất. Vai trò hoạt động tạm nhập tái xuất Ngày nay, xu hƣớng hội nhập kinh tế quốc tế cùng với sự phát triển của Logistics đã dẫn tới nhiều loại hình kinh doanh mới mẻ phát triển hơn và tạm nhập tái xuất là một trong những hình thức phổ biến đó.
Trên thế giới, hoạt động này trở nên quen thuộc và ngày càng đóng giữ một vai trò quan trọng trong thƣơng mại. 7 Đối với nền kinh tế thế giới, hoạt động tạm nhập tái xuất góp phần làm phong phú thêm quan hệ thƣơng mại, thúc đẩy sự giao lƣu mua bán giữa các quốc gia, từ đó tăng thêm lợi nhuận. Có thể thấy, phƣơng thức tạm nhập tái xuất đóng vai trò cầu nối trong thƣơng mại quốc tế, giúp những nƣớc không có quan hệ thƣơng mại với nhau có cơ hội tiêu thụ hàng hóa của nhau thông qua nƣớc thứ ba. Đối với các quốc gia, phƣơng thức tạm nhập tái xuất trở thành một cơ hội để phát triển kinh tế, đặc biệt đƣợc áp dụng rộng rãi đối với những nƣớc không có vị trí thuận lợi về cảng biển, đƣờng bộ cũng nhƣ các yếu tố khác.
Tƣơng tự nhƣ các hoạt động xuất nhập khẩu khác, hoạt động tạm nhập tái xuất đang đóng góp một nguồn ngoại hối lớn cho nƣớc nhà, đồng thời thúc đẩy phát triển nhiều dịch vụ có liên quan nhƣ hậu cần, bốc xếp, kho bãi, cảng, vận tải đƣờng thủy, hàng không, đƣờng bộ, bảo hiểm,. và tạo thêm nhiều công ăn việc làm. Từ đó, nền kinh tế quốc gia phát triển, khẳng định đƣợc vị thế và uy tín của quốc gia, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế. Đối với doanh nghiệp, sử dụng hình thức kinh doanh tạm nhập tái xuất là cách doanh nghiệp tận dụng tốt lợi thế về thông tin kinh tế, thị trƣờng, giá cả, kinh nghiệm thƣơng mại và quan hệ bạn hàng nƣớc ngoài, đồng thời phát huy năng lực nghiệp vụ chuyên môn để tạm nhập và tái xuất hàng hóa.
Từ đó, doanh nghiệp gia tăng lợi nhuận từ phần chênh lệch giá, sau khi đã tính đủ chi phí. Ngoài ra, hoạt động tái xuất cũng giúp kéo dài vòng đời sử dụng của sản phẩm, đẩy mạnh sự luân chuyển hàng hóa giữa các quốc gia, từ nơi có nhu cầu thấp đến nơi có nhu cầu cao. Các quy định của nhà nƣớc về hoạt động tạm nhập tái xuất Tạm nhập để tái xuất là một trong những hình thức kinh doanh xuất nhập khẩu đƣợc sử dụng thông thƣờng trong quan hệ thƣơng mại quốc tế và chịu sự điều chỉnh của luật pháp quốc tế, tập quán thƣơng mại quốc tế và luật lệ của những nƣớc có liên quan. Tại Việt Nam, hoạt động kinh doanh tạm nhập tái xuất chịu sự giám sát chặt chẽ từ hải quan.
Quy định chung về kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa. Theo điều 13, điều 18 của Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định, các doanh nghiệp Việt Nam có quyền kinh doanh tạm nhập tái xuất hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh. Đối với hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập 8 khẩu; hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu; hàng hóa chƣa đƣợc phép lƣu hành, sử dụng tại Việt Nam; hàng hóa thuộc diện quản lý bằng biện pháp hạn ngạch xuất khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan, giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, trừ trƣờng hợp Giấy phép xuất khẩu tự động, Giấy phép nhập khẩu tự động, doanh nghiệp phải đƣợc Bộ Công Thƣơng cấp Giấy phép kinh doanh tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu. Ngƣợc lại, với các mặt hàng không thuộc mục trên, thủ tục tạm nhập, tái xuất của doanh nghiệp đƣợc thực hiện tại các cơ quan hải quan cửa khẩu, không cần giấy phép của bộ công thƣơng.
Quy định về hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất Theo quy định của Việt Nam, hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất luôn chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan từ khi tạm nhập cho tới khi hàng hóa thực tái xuất ra khỏi Việt Nam. Doanh nghiệp không đƣợc phép chia nhỏ hàng hóa và yêu cầu bắt buộc phải vận chuyển bằng công-ten-nơ trong suốt quá trình vận chuyển hàng hóa từ cửa khẩu tạm nhập đến khu vực chịu sự giám sát của cơ quan hải quan, địa điểm tái xuất thuộc cửa khẩu, lối mở biên giới theo quy định. Đối với hàng hóa kinh doanh tái xuất thực nghĩa, hàng hóa kinh doanh đƣợc phép lƣu tại Việt Nam không quá 60 ngày kể từ ngày kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập. Trƣờng hợp cần kéo dài thời hạn, thƣơng nhân có văn bản đề nghị gia hạn gửi Chi cục Hải quan nơi thực hiện thủ tục tạm nhập; thời hạn gia hạn mỗi lần không quá 30 ngày và không quá hai 2 lần gia hạn cho mỗi lô hàng tạm nhập, tái xuất.
Đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất qua kho ngoại quan, hàng hóa đƣợc phép lƣu trong kho không quá 12 tháng kể từ ngày đƣa hàng vào kho; trƣờng hợp có lý do chính đáng thì đƣợc cục trƣởng cục hải quan quản lý kho ngoại quan gia hạn một lần không quá 12 tháng. Thủ tục hải quan tạm nhập hàng hóa đƣa vào kho ngoại quan Theo Luật Hải quan Việt Nam 2014, kho ngoại quan là khu vực kho, bãi lƣu giữ hàng hóa đã làm thủ tục hải quan đƣợc gửi để chờ xuất khẩu; hàng hóa từ nƣớc ngoài đƣa vào gửi để chờ xuất khẩu ra nƣớc ngoài hoặc nhập khẩu vào Việt Nam.