Chương I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU I.1 Tổng quan về cây bách bệnh I.1 Giới thiệu về cây bách bệnh Cây bách bệnh hay còn gọi là mật nhân, hậu phác, tho nan (Lào), antoung sar (campuchia), Tongkat ali (Mã Lai). Tên khoa học là Eurycoma longifolia Jack (Crassula pinnata Lour.), thuộc họ thanh thất (Simaroubaceae).2 Mô tả thực vật Cây nhỏ có cành, lá kép lông chim lẻ gồm 10 đến 36 đôi lá chét, hầu như không có cuống, hình trứng dài, dày, nhẵn hoặc có lông ở mặt dưới. Cây bách bệnh là loài đơn tính khác gốc (dioecious) nên mỗi cây chỉ trổ hoa đực hoặc hoa cái. Hoa màu đỏ nâu mọc thành chùm, nở vào tháng 3 – 4.
Mỗi hoa có 5 – 6 cánh rất nhỏ. Cây kết quả vào tháng 5 – 6. Quả non màu xanh, khi chín đổi sang màu đỏ sẫm, nhẵn, hơi thuôn dài, đầu tù và cong, mặt trong có lông thưa và ngắn, dài từ 1 – 2 cm, ngang 0,5 – 1 cm. Một hạt có nhiều lông ngắn.3 Phân bố thu hái và chế biến Eurycoma Jack là chi nhỏ gồm những đại diện là cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á.
Vùng Đông Nam Á có ba loài và một vài dưới loài, trong đó đáng chú ý nhất là loài bách bệnh phân bố rộng rãi từ Myanmar đến các nước Đông Dương, Thái Lan, Malaysia, đảo Sumatra. Ở Việt Nam cây mọc phổ biến ở khắp nước ta nhưng phổ biến nhất ở miền Trung, Tây Nguyên, Tây Ninh, đặc biệt quanh vùng Biên Hoà, Trảng Bom và Định Quán − Đồng Nai. Người ta dùng quả, vỏ thân và vỏ rễ phơi hay sấy khô làm thuốc.2 Công dụng của cây bách bệnh I.1 Tác dụng dược lý Theo Đông y, cây có vị đắng, tính ấm, dung chữa nhiều bệnh nên có tên là bách bệnh như: ăn không tiêu, tiêu chảy, nôn mửa, kiết lỵ,… Nước sắc lá cây trị ghẻ lở mụn nhọt. Các quassinoid từ rễ cây có tác dụng diệt ký sinh trùng sốt rét Plasmodium.
(Chan và cs, 1989) 3 SVTH: Phạm Minh Sang GVHD: TS. Phùng Văn Trung Khoá luận tốt nghiệp ThS. Nguyễn Minh Hoàng Sách những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS – TS Đỗ Tất Lợi có ghi như sau: trong vỏ cây mật nhân có chứa một chất đắng gọi là quassin. Vỏ cây dùng chữa những trường hợp ăn uống không tiêu, đau mỏi lưng.
Quả của cây này dùng để chữa lỵ (Đỗ Tất Lợi, 1999). Theo từ điển cây thuốc Việt Nam của TS Võ Văn Chi, người ta dùng rễ cây mật nhân thái nhỏ, tẩm rượu sao để làm thuốc, có vị đắng, tính mát. Thường dùng chữa khí hư, huyết kém, ăn uống không tiêu, tức ngực, gân xương yếu, tay chân tê đau, tả lỵ, nôn mửa. Còn dùng chữa tứ thời cảm mạo.
(Võ Văn Chi, 2003) Tại Việt Nam rễ, vỏ và quả cây được dùng sắc thuốc, vị rất đắng. Thuốc được dùng trị xổ giun, sốt rét, kiết lỵ, ngộ độc, đầy bụng, và cả say rượu. Khi dùng ngoài da thuốc có thể trị ghẻ lở. Có lẽ vì đa dụng nên cây này được đặt tên là “mật nhân”.
Ngoài ra cây mật nhân có khả năng tăng kích thích tố testosterone nên trong giới lực sĩ, cây dùng như vị thuốc bổ để thêm năng lượng cơ thể giúp tăng cường chức năng sinh lý và sức khoẻ tình dục, giúp giảm stress, mệt mỏi, tăng cường miễn dịch, ngăn ngừa khối u và phòng chống lão hoá, giúp tăng năng lượng hoạt động và sức bền cơ thể.2 Một số kinh nghiệm chữa bệnh bằng cây bách bệnh I.1 Điều trị các triệu chứng về rối loạn tiêu hoá, đường ruột, đau nhức xương khớp, tê thấp Dùng 2 lít rượu với 0,2 kg rễ mật nhân. Cây rửa sạch rồi chẻ nhỏ ra đủ kích cỡ lọt bình ngâm là được (bằng ngón tay), phơi khô, rượu ngâm sau một thời gian chuyển sang màu vàng tuỳ đậm đặc mà màu rượu vàng mức độ nào, tuỳ độ đặc mà người uống khi rót rượu từ bình ra khi uống có thể pha thêm rượu ở ngoài.2 Công thức trị đau gan, nước da vàng, ngứa, suyễn Mật nhân tán cho nhuyễn, để bột uống hoặc làm hoàn, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 muỗng cà phê đầy. Trong khoảng 1 – 2 tuần sẽ hết. 4 SVTH: Phạm Minh Sang GVHD: TS.
Phùng Văn Trung Khoá luận tốt nghiệp ThS. Nguyễn Minh Hoàng I.3 Thành phần hoá học Qua kết quả thu nhận từ các công trình nghiên cứu đã được công bố, đã phân lập hơn 65 hợp chất các loại từ rễ cây bách bệnh (Kuo và cs, 2004), thành phần hoá học của cây bách bệnh vô cùng phong phú và đa dạng, bao gồm nhiều hợp chất như các diterpenoids, triterpen với 3 khung sườn cơ bản như: quassinoid, squallan và tirucallan. Ngoài ra, còn có các alkaloid, steroid, flavonoid. Trong đó, quassinoid, alkaloid đóng vai trò quan trọng nhất và hoạt lực chủ yếu của cây bách bệnh.1 Một số công trình nghiên cứu trong nước Hiện nay trong nước chưa có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần hoá học và hoạt tính sinh học cây bách bệnh.
Năm 1968 từ cao ete dầu hoả của vỏ và lá cây mật nhân, nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Sương, trường Đại học Khoa học Sài Gòn đã phân lập được 7 hợp chất là β- sistosterol (1), campesterol (2), 2,6-dimethoxybezoquinone (3), eurycomalactone (4), dihydroeurycomalactone (5), laurycolatone A (6), laurycolactone B (7). (1) β–sistosterol (2) Campesterol (3) 2,6-dimethoxybezoquinone (4) Eurycomalactone 5 SVTH: Phạm Minh Sang GVHD: TS. Phùng Văn Trung Khoá luận tốt nghiệp ThS. Nguyễn Minh Hoàng (5) Dihydroeurycomalactone (6) Laurycolacton A (7) Laurycolacton B Năm 2006, GS.TS Trần Quán Anh, trung tâm nam học của bệnh viện Việt Đức - Hà Nội, đã nghiên cứu tính hiệu quả và an toàn của sản phẩm Khang Dược trong điều trị mãn dục nam.
Kết quả nghiên cứu trên 30 bệnh nhân sau thời gian sử dụng bước đầu cho thấy: 100% nam giới bị mãn dục nam có sử dụng mật nhân đều tăng nồng độ testosterone trong máu sau 3 tháng sử dụng. Thuốc có tác dụng cải thiện sức khoẻ toàn diện, nâng cao chất lượng đời sống tình dục một cách tự nhiên, gia tăng ham muốn, tăng trương lực cơ, chống mệt mỏi, hồi phục nhanh sinh lực sau khi quan hệ tình dục. Đối với những người bị rối loạn cương dương, xuất tinh sớm, thuốc có tác dụng hỗ trợ điều trị cùng với nhóm thuốc đặc hiệu, làm tăng khoái cảm, tăng khả năng cương cứng, kéo dài thời gian xuất tinh. 6 SVTH: Phạm Minh Sang GVHD: TS.
Phùng Văn Trung Khoá luận tốt nghiệp ThS. Nguyễn Minh Hoàng Năm 2006 nhóm tác giả Phạm Thị Như Hồng, trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên TP. HCM đã phân lập 3 hợp chất triterpen là 25-O-methylpiscidinol A (8), tirucallan-7,24-diene-3-one (9) và epi-sapeline (10) cùng với hai hợp chất quassinoid là quassin (11) và 18-hydroxyquassin (12). (8) 25-O-methylpiscidinol A (9) Tirucallan-7,24-diene-3-one (10) Epi-sapeline (11) Quassin (12) 18-hydroxyquassin 7 SVTH: Phạm Minh Sang GVHD: TS.
Phùng Văn Trung Khoá luận tốt nghiệp ThS. Nguyễn Minh Hoàng Năm 2007, nhóm tác giả Trần Anh Tuấn, Trần Thị Thu Hương, Trần Hồng Quang, Nguyễn Tiến Hùng, Phan Văn Kiệm, Châu Văn Minh, đã nghiên cứu thành phần hoá học cây bách bệnh và đã cô lập được 6 hợp chất là: 9-hydroxycanthin-6-one (13), 13,18-dihydroeurycomanone (14), kaempferol-3-0-α-rhamnpyrannoisid (15), eurycomanone (16), eurylene (17), 9-methoxylcanthin-6-one (18). (17) Eurylene (16) Eurycomanone (18) 9-methoxylcanthin-6-one (13) 9-hydroxycanthin-6-one (14) 13,18-dihydroeurycomanone 8 SVTH: Phạm Minh Sang GVHD: TS. Phùng Văn Trung Khoá luận tốt nghiệp ThS.
Nguyễn Minh Hoàng I.2 Một số công trình nghiên cứu ngoài nước Năm 1982, nhóm nghiên cứu thuộc trường đại học Y dược Hiroshima, Nhật, từ rễ cây có nguồn gốc từ Indonesia đã cô lập được hai hợp chất quassinoid có số oxy hoá cao có tên là eurycomanone (19) và eurycomanol (20). (19) Eurycomanone (20) Eurycomanol Năm 1982, bằng phương pháp sắc kí, phương pháp nhiễu xạ tia X để xác định cấu trúc, Nguyễn Ngọc Sương, S. Pascal đã cô lập được hai hợp chất thuộc nhóm quassinoid 20 carbons, có tên gọi là laurycolacton A (21) và laurycolacton B (22). (21) Laurycolactone A (22) Laurycolactone B 9 SVTH: Phạm Minh Sang GVHD: TS.
Phùng Văn Trung Khoá luận tốt nghiệp ThS. Nguyễn Minh Hoàng Năm 1986, nhóm tác giả gồm: K. Warhurst, từ cao eter dầu trích từ rễ cây, không những tìm thấy những hợp chất mới thuộc nhóm quassinoid như 3,4-dihydroeurycomalacton (23), 5,6- dehydroeurycomalactone (24), 6-hydroxy-5,6-dehydroeurycomalacton (25), mà còn phát hiện thêm sự hiện diện của các alkaloid khác như 10-hydroxycanthin-6-one (26), là tinh thể màu vàng. Đồng thời từ cao chloroform trích từ rễ cây bách bệnh nhóm tác giả đã phân lập được một hợp chất coumarin có tên gọi là scopoletin (27).
(23) 3,4-dihydroeurycomalactone (24) 5,6-dihydroeurycomalactone (27) Scopoletin (25) 6-hydroxy-5,6-dehydroeurycomalactone (26) 10-hydroxycanthin-6-one 10 SVTH: Phạm Minh Sang GVHD: TS. Phùng Văn Trung Khoá luận tốt nghiệp ThS. Nguyễn Minh Hoàng Năm 1989, nhóm tác giả K. Han, từ cao n-butanol trích từ rễ cây bách bệnh, nhóm tác giả đã cô lập được một quassinoid có tên gọi là eurycomanol-2-O-β-D-glucopyranoid (28).
(28) Eurycomanol-2-O-β-D-glucopyranosid Năm 1991, nhóm tác giả H. Shir, trong quá trình thử nghiệm hoạt tính sinh học của cây pasakbumi (bách bệnh), bên cạnh việc phân lập hợp chất paskbumin A (eurycomanone (29)) còn phân lập được hai hợp chất mới cũng có khung sường quassinoid là paskbumin B (30) và paskbumin C (31) từ cao methanol trích từ rễ cây bách bệnh. Eurycomanone (30) R = β – epoxide (pasakbumin – B) (31) R = α – epoxide (pasakbumin – C) 11 SVTH: Phạm Minh Sang GVHD: TS. Phùng Văn Trung Khoá luận tốt nghiệp ThS.
Nguyễn Minh Hoàng Cùng thời điểm trên, nghiên cứu từ cao n-butanol trích ly từ rễ cây bách bệnh thu hái ở Indonesia, nhóm tác giả thuộc trường đại học y dược Hiroshima - Nhật đã cô lập được hợp chất longilactone (32) và ba hợp chất quassinoid có 19 carbons là 13,21-dihydroeurycomanone (33), 13β,21-dihydroxyeurrycomanone (34) và 14,15β- dihydroklaineanone (35). (32) Longilactone (33) 13,21-dihydroeurycomanone (34) 13β,21-dihydroeurycomanone (35) 14,15β-dihydroklaineanone Năm 1993, nhóm còn tiếp tục cô lập thêm 1 hợp chất quassinoid mới từ cao n- butanol có tên 1,2-seco-1-nor-6-(5-10)-abeo-picrasau-2,5-olide. Ngoài ra, khi tiến hành khảo sát dịch chiết từ lá cây bách bệnh bằng dung môi CH2Cl2 thu được hai hợp chất mới là 6-dehydrolongilactone (36) và 7α- hydroeurycomalactone (37). 12 SVTH: Phạm Minh Sang GVHD: TS.
Phùng Văn Trung Khoá luận tốt nghiệp ThS. Nguyễn Minh Hoàng 1,2-seco-1-nor-6-(5-10)-abeo-picrasau-2,5-olide (37) 7α -hydroxyeurycomalactone (36) 6-dehydrolongilactone Năm 1991, nhóm nghiên cứu thuộc trường đại học y dược Tokyo - Nhật, trong quá trình nghiên cứu hoạt tính sinh học của cây bách bệnh đã phân lập được hai hợp chất mới khung squallan. Đây là hai đồng phân lập thể của nhau, gồm có eurylene (38) và teurylene (39), cả hai đều có dạng tinh thể không màu, có chung công thức phân tử là C34H58O8. (38) Eurylene (39) Teurylene 13 SVTH: Phạm Minh Sang GVHD: TS.
Phùng Văn Trung Khoá luận tốt nghiệp ThS. Nguyễn Minh Hoàng Ngoài ra, từ dịch trích từ rễ cây bách bệnh với ete dầu, K. Sankawa đã cô lập được hợp chất 13β,18- dihydroeurycomanol (40) bằng cách kết tinh trong methanol.