Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nghề nuôi trồng nấm ăn đã hình thành và phát triển trên quy mô toàn cầu qua nhiều thập kỷ, mang lại nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và góp phần tận dụng hiệu quả các nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp. Tại Việt Nam, hoạt động nghiên cứu và nuôi trồng nấm ăn được triển khai từ năm 1970 và từng bước hình thành hệ thống sản xuất từ nghiên cứu, chọn tạo giống đến nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất nấm tại nhiều địa phương, trong đó có huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, vẫn bộc lộ nhiều hạn chế nội tại: tổ chức sản xuất còn phân tán, quy mô nhỏ lẻ; trang thiết bị và công nghệ chế biến còn thô sơ (chủ yếu là sấy khô); năng suất lao động thấp dẫn đến giá thành sản phẩm còn cao; việc thu gom nguyên liệu và phát triển thị trường tiêu thụ gặp khó khăn do chưa hình thành được các vùng chuyên canh hay trang trại tập trung quy mô lớn; chủng loại nấm đưa vào sản xuất hàng hóa còn hạn chế.

Nhằm khai thác các tiềm năng sẵn có về điều kiện tự nhiên, phụ phẩm nông nghiệp và nguồn lao động tại địa phương, đồng thời tìm kiếm giải pháp chuyển đổi phương thức sản xuất từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa, tác giả Hoàng Thị Chi (chuyên ngành Phát triển nông thôn, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Tìm hiểu quy trình sản xuất và thị trường tiêu thụ nấm sò tại cơ sở sản xuất nấm Sơn Xuyến tại xã Ký Phú huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên".

Mục tiêu nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể trên các phương diện:

  1. Về chuyên môn:
    • Nắm được quá trình hình thành và phát triển của cơ sở sản xuất nấm Sơn Xuyến.
    • Nắm vững quy trình kỹ thuật sản xuất nấm sò tại cơ sở.
    • Thực hành trực tiếp các công đoạn lao động sản xuất thực tế tại cơ sở sản xuất nấm.
    • Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của cơ sở sản xuất thông qua hệ thống chỉ tiêu kinh tế.
    • Tìm hiểu thực trạng thị trường và kênh tiêu thụ sản phẩm nấm của cơ sở.
    • Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển cơ sở sản xuất nấm Sơn Xuyến trên địa bàn xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Về thái độ và kỹ năng: Chấp hành các quy định về thời gian, trang phục, tác phong làm việc; nâng cao tính chủ động, khả năng thích ứng với áp lực công việc nông thôn; rèn luyện kỹ năng quan sát, giao tiếp cộng đồng, làm việc nhóm và phương pháp bố trí nghiên cứu khoa học.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy trình sản xuất kỹ thuật và thị trường tiêu thụ sản phẩm nấm sò (Pleurotus ostreatus). Phạm vi nghiên cứu về không gian được đặt tại Cơ sở sản xuất nấm Sơn Xuyến, xóm Đặn 1, xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Phạm vi nghiên cứu về thời gian: thời gian thực tập và thu thập số liệu thực địa diễn ra từ ngày 20/01/2017 đến ngày 30/05/2017; các dữ liệu hạch toán tài chính, chi phí và doanh thu được thu thập và phân tích dựa trên chu kỳ sản xuất kinh doanh 6 tháng cuối năm 2016 của cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập khung lý luận dựa trên các nguyên lý kinh tế học sản xuất nông nghiệp và lý thuyết thương mại nông sản:

  • Khái niệm và bản chất của sản xuất: Sản xuất là quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào (nhân lực, vốn, công nghệ, nguyên vật liệu, đất đai) thành các yếu tố đầu ra (sản phẩm, dịch vụ, giá trị gia tăng). Văn bản phân tích ba yếu tố cấu thành quá trình lao động sản xuất gồm sức lao động, đối tượng lao động (nguyên liệu rơm rạ, mùn cưa, vôi, giống) và tư liệu lao động (nhà xưởng, lò hấp, máy móc, công cụ). Đồng thời, tác giả phân biệt hai hình thức sản xuất: sản xuất hàng hóa giản đơn (phân tán, quy mô nhỏ, kỹ thuật thủ công, trao đổi ngẫu nhiên phần dư thừa) và sản xuất hàng hóa lớn (sản xuất tập trung với mục đích thương mại định trước, chuyên môn hóa và phân công lao động cao).
  • Khái niệm và cấu trúc thị trường: Thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu, xác định giá cả và khối lượng giao dịch. Văn bản tiếp cận hệ thống kênh phân phối nông sản theo ba dạng: kênh cực ngắn (người sản xuất bán trực tiếp cho người tiêu dùng), kênh ngắn (qua một khâu bán lẻ trung gian) và kênh dài (qua hai khâu trung gian trở lên).
  • Các nhân tố ảnh hưởng: Khung lý thuyết phân chia thành nhân tố nội sinh (giá cả, chất lượng sản phẩm, cơ cấu mặt hàng, quảng cáo xúc tiến, tổ chức kênh phân phối và dịch vụ khách hàng) và nhân tố ngoại sinh (thu nhập bình quân GNP, lạm phát, lãi suất ngân hàng, chính sách thuế, mức độ cạnh tranh và thị hiếu tiêu dùng).
  • Cơ sở thực tiễn và chính sách: Khóa luận dẫn chứng các số liệu tổng quan về ngành nấm thế giới (sản lượng toàn cầu đạt khoảng 25 triệu tấn/năm, các quốc gia đi đầu gồm Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan); thực trạng sản xuất nấm tại Việt Nam (sản lượng khoảng 250.000 tấn/năm với 16 chủng loại nấm); và tình hình triển khai Đề án "Tổ chức sản xuất và tiêu thụ nấm giai đoạn 2010–2015" của tỉnh Thái Nguyên cùng Quyết định số 2247/QĐ-UBND ngày 06/9/2011 về việc giao Hội Nông dân tỉnh quản lý nhãn hiệu tập thể "Nấm Thái Nguyên".

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài kết hợp các phương pháp định tính và hạch toán kinh tế thực tế:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu thống kê từ các báo cáo phát triển kinh tế – xã hội của UBND xã Ký Phú, báo cáo của xóm Đặn 1, các tài liệu khuyến nông của tỉnh Thái Nguyên và sổ sách theo dõi nội bộ của cơ sở sản xuất nấm Sơn Xuyến.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp (công cụ PRA): Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp chủ cơ sở (bà Nguyễn Thị Xuyến) và các hộ gia đình liên quan để thu thập dữ liệu đầu vào, quy trình kỹ thuật, thuận lợi và khó khăn; kết hợp phương pháp quan sát trực tiếp quy trình vận hành và mặt bằng sản xuất tại cơ sở.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp chuyên khảo tài liệu và phương pháp hạch toán chi phí – doanh thu sản xuất nông hộ.
  • Hệ thống chỉ tiêu kinh tế được sử dụng gồm:
    • Giá trị sản xuất ($GO$): Toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất tạo ra trong kỳ ($GO = \sum P_i \times Q_i$).
    • Chi phí trung gian ($IC$): Toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ thường xuyên sử dụng trong kỳ ($IC = \sum C_i$).
    • Giá trị gia tăng ($VA$): Phần giá trị mới tạo ra ($VA = GO - IC = V + C + M$).
    • Các chỉ tiêu hiệu quả: Tỷ suất giá trị sản xuất trên chi phí trung gian ($GO/IC$); Tỷ suất giá trị gia tăng trên chi phí trung gian ($VA/IC$); Năng suất lao động theo giá trị sản xuất ($GO/LĐ$); Năng suất lao động theo giá trị gia tăng ($VA/LĐ$).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Nội dung phần này tập trung phân tích tính cấp thiết của việc phát triển nghề nấm trong bối cảnh tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn; xác lập hệ thống mục tiêu nghiên cứu về chuyên môn, thái độ và kỹ năng làm việc; giới thiệu 7 nội dung thực tập trọng tâm; mô tả hệ thống phương pháp thu thập, phân tích thông tin và các công thức hạch toán kinh tế; đồng thời xác định cụ thể thời gian thực tập 4 tháng (từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2017) tại xóm Đặn 1, xã Ký Phú.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết hệ thống lý luận về sản xuất, quy trình công nghệ, thị trường và chuỗi lưu thông hàng hóa nông sản; phân tích tác động của các nhân tố kinh tế và kỹ thuật đến quy trình nuôi trồng và tiêu thụ nấm. Phần tổng quan thực tiễn trình bày dữ liệu sản xuất và xuất nhập khẩu nấm trên thế giới (sản lượng của Trung Quốc, giá trị ngành nấm Hàn Quốc, các thị trường tiêu thụ lớn như Mỹ, Đức, Pháp, Nhật Bản); phân tích cơ cấu 16 loại nấm tại Việt Nam và phân bố vùng trồng (nấm rơm ở miền Nam, nấm sò, nấm mỡ, nấm hương ở miền Bắc); đánh giá kết quả triển khai Đề án nấm giai đoạn 2010–2015 của UBND tỉnh Thái Nguyên với sự tham gia của 5 doanh nghiệp lớn, 6 hợp tác xã và 75 hộ nông dân tính đến cuối năm 2011.

Phần 3: Kết quả thực tập

Chương này trình bày toàn bộ kết quả khảo sát thực tế và phân tích thực nghiệm tại địa bàn:

  • Khái quát địa bàn: Xã Ký Phú có diện tích tự nhiên 1.835,47 ha (đất nông nghiệp chiếm 83,46%), dân số 7.325 người với 4.012 lao động; nằm dưới chân dãy Tam Đảo, có Quốc lộ 261 đi qua, có 5 con suối và hồ Gò Miếu; có 16 điểm lún sụt đất tại 3 xóm được cắm biển cảnh báo. Thôn Đặn 1 có diện tích 65 ha, 111 hộ, 388 nhân khẩu, 240 lao động chính; kinh tế chủ lực là cây chè (5,4 ha), cây ăn quả (14 ha) và 5 trang trại sản xuất nông nghiệp.
  • Năng lực cơ sở sản xuất nấm Sơn Xuyến: Cơ sở do bà Nguyễn Thị Xuyến làm chủ, thành lập tháng 6/2016 với vốn điều lệ đăng ký 850.000.000 đồng; quy mô diện tích mặt bằng 7.000 m² được bố trí chuyên biệt: đất ở 500 m², khu nuôi trồng nấm 2.000 m², bãi đảo ủ nguyên liệu 1.500 m², khu đóng bịch và lò hấp tiệt trùng 1.000 m², phòng cấy giống 1.000 m², nhà ươm sợi 1.000 m²; nhân lực gồm 4 người trong gia đình và thuê thường xuyên 10 lao động địa phương.
  • Mô tả 8 công việc sinh viên trực tiếp tham gia:
    1. Quy trình kỹ thuật sản xuất nấm sò qua 5 bước: (1) Xử lý nguyên liệu: rơm rạ khô ngâm nước vôi theo tỷ lệ 4 kg vôi tôi trên 1 tạ rơm; (2) Ủ nguyên liệu: đưa rơm lên kệ có cọc thoát hơi giữa đống, bọc nilon giữ nhiệt; đảo đống ủ lần 1 sau 3–4 ngày, ủ tiếp 3–4 ngày rồi đảo lần 2; sau 3–4 ngày dỡ đống ủ băm đoạn 7–10 cm rồi ủ lại 2 ngày; (3) Cấy giống: dùng túi nilon 30 x 45 cm gấp đáy, nhồi 3 lớp nguyên liệu dày 5–7 cm xen kẽ rắc giống quanh thành túi, rắc lớp trên cùng, nút bông bằng miệng chén và buộc chun; trọng lượng bịch đạt 2,4–2,7 kg; định mức giống 16–20 bịch/kg giống (tương đương 4,0–4,5 kg giống/100 kg rơm khô); (4) Ươm sợi và rạch bịch: chuyển vào nhà ươm thoáng mát 20–25 ngày; khi tơ nấm ăn kín đáy bịch thì rạch 6–8 vết dài 5–6 cm so le quanh bịch; (5) Chăm sóc và thu hoạch: sau rạch bịch 4–6 ngày không tưới nước; khi quả thể nhú ra thì tưới phun sương 4–6 lần/ngày; thu hái khi mũ nấm đạt đường kính 2–2,5 cm (bầu nấm bằng chén nhỏ); chu kỳ thu hoạch kéo dài 30–45 ngày qua 3–4 đợt, hiệu quả cao nhất trong 30 ngày đầu; bịch ngót thì ép nhẹ và buộc sát lại để thu đợt tiếp.
    2. Tìm hiểu bệnh hại: Nhận diện các loại mốc do khử trùng và ủ nguyên liệu chưa đạt yêu cầu; côn trùng phá hại; các biện pháp vệ sinh nhà xưởng, thu gom túi thải và phun thuốc phòng trừ.
    3. Thực hành băm rơm: Dùng dao sắc và thớt gỗ chắc chắn, băm đoạn ngắn 7–10 cm, không để lẫn dăm gỗ làm rách túi nilon.
    4. Chuyển bịch vào nhà ươm: Xếp bịch nấm thẳng đứng trên giàn kệ, miệng túi hướng lên trên, giữ khoảng cách 2–3 cm giữa các bịch.
    5. Treo bịch nấm lên giàn: Tháo nút bông, ép thoát khí, buộc kín miệng và treo úp xuống; mỗi dây treo 6–7 bịch, cách nhau 15–20 cm; bịch dưới cùng cách mặt sàn 15–20 cm; khoảng cách giữa 2 dây treo là 10–12 cm.
    6. Kỹ thuật tưới nấm: Dùng bình phun sương tưới 4–6 lần/ngày tùy độ ẩm; tưới đủ ẩm bề mặt mũ nấm, tránh đọng nước gây thối rữa quả thể.
    7. Kỹ thuật thu hái nấm: Giữ cố định bịch, nắm sát gốc cụm nấm, xoay nhẹ và rút hết chân nấm nhằm ngăn ngừa thối rữa lây lan.
    8. Dỡ giàn và vệ sinh xưởng: Tháo dỡ các bịch phôi đã hết chu kỳ ra nấm, vận chuyển phôi thải ra ngoài và quét dọn, khử trùng buồng nuôi.
  • Đánh giá thị trường và kênh tiêu thụ: Cơ sở phân phối sản phẩm chủ yếu tại các thị trường quanh vùng theo kênh ngắn và kênh cực ngắn; cung cấp nấm ăn tươi và bán trực tiếp bịch phôi nấm đã ươm sợi cho các hộ lân cận tự chăm sóc.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp toàn bộ kết quả sản xuất kinh doanh của cơ sở trong 6 tháng cuối năm 2016 thông qua các bảng hạch toán cụ thể:

Bảng tổng hợp kết quả tài chính và các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế (6 tháng cuối năm 2016):

STT Chỉ tiêu Đơn vị tính Số lượng / Mức độ Thành tiền (nghìn đồng) Cơ cấu (%)
I Doanh thu (Giá trị sản xuất - GO) 515.000 100,0
1 Nấm thương phẩm (48.000 bịch $\times$ 0,5 kg/bịch) kg 24.000 480.000 93,2
2 Bịch nấm giống bán ra (đơn giá 7.000 đ/bịch) bịch 5.000 35.000 6,8
II Chi phí trung gian (IC) 248.330 -
1 Công lao động thuê ngoài (150.000 đ/công) công 700 105.000 -
2 Giống nấm (25.000 đ/kg) kg 2.650 66.250 -
3 Lãi suất vay ngân hàng (1 tỷ đồng, 0,6%/tháng) tháng 6 36.000 -
4 Nhiên liệu than đốt lò hấp (1.200.000 đ/tấn) tấn 18 21.600 -
5 Các khoản chi phí khác - - 10.000 -
6 Túi nilon chuyên dụng (25.000 đ/kg) kg 140 3.500 -
7 Rơm rạ khô (50.000 đ/tạ) tạ 50 2.500 -
8 Điện năng phục vụ bơm tưới (2.000 đ/KW) KW 1.100 2.200 -
9 Mùn cưa (200.000 đ/khối) khối 3 600 -
10 Dụng cụ chậu, rổ (50.000 đ/chiếc) chiếc 10 500 -
11 Vôi tôi xử lý nguyên liệu (3.000 đ/kg) kg 60 180 -
III Chi phí phân bổ tài sản cố định (Khấu hao) - - 44.000 -
IV Tổng chi phí sản xuất (II + III) - - 293.330 -
V Lợi nhuận và hiệu quả kinh tế
1 Giá trị gia tăng ($VA = GO - IC$) / Lãi gộp nghìn đồng - 266.670 -
2 Lãi ròng ($VA - \text{Chi phí phân bổ}$) nghìn đồng - 222.670 -
3 Tỷ suất giá trị sản xuất trên chi phí ($GO/IC$) lần - 2,07 -
4 Tỷ suất giá trị gia tăng trên chi phí ($VA/IC$) lần - 1,07 -
5 Giá trị sản xuất trên một lao động ($GO/LĐ$) nghìn đồng/công - 736 -
6 Giá trị gia tăng trên một lao động ($VA/LĐ$) nghìn đồng/công - 381 -

Về đóng góp thực tiễn và xã hội:

  • Cơ sở đã chứng minh tính khả thi của mô hình chuyển đổi từ nông hộ nhỏ lẻ sang cơ sở sản xuất nấm tập trung, đạt lợi nhuận ròng 222.670.000 đồng chỉ sau 6 tháng vận hành;
  • Giải quyết việc làm thường xuyên cho 10 lao động địa phương với mức thù lao 150.000 đồng/công;
  • Khai thác hiệu quả quỹ đất 7.000 m² và tận dụng lượng phụ phẩm nông nghiệp lớn (rơm rạ, mùn cưa), giảm thiểu đốt rơm rạ gây ô nhiễm môi trường nông thôn;
  • Cung ứng 5.000 bịch phôi nấm cho cộng đồng dân cư xung quanh, tạo động lực thúc đẩy liên kết sản xuất và lan tỏa kỹ thuật trồng nấm trong khu vực.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận và tác giả đã thẳng thắn ghi nhận các tồn tại thực tế:

  • Về phía cơ sở sản xuất: Kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ chưa nhiều, vốn đầu tư ban đầu lớn dẫn đến gánh nặng lãi vay ngân hàng (36 triệu đồng/6 tháng); trình độ quản trị kinh doanh và khả năng tiếp cận thông tin thị trường còn hạn chế; chất lượng lao động thuê tại địa phương thấp do chưa qua đào tạo kỹ thuật; công tác quy hoạch mặt bằng còn mang tính tự phát; các rủi ro thời tiết như các đợt rét đậm kéo dài và sâu bệnh phát sinh gây ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất nấm.
  • Về thị trường: Hệ thống phân phối còn mang tính cục bộ quanh vùng huyện Đại Từ, chưa thâm nhập được vào các kênh phân phối hiện đại (siêu thị, cửa hàng nông sản sạch) hay liên kết tiêu thụ ngoại tỉnh; giá bán còn bấp bênh theo mùa vụ.
  • Hạn chế của nghiên cứu: Phạm vi khảo sát kinh tế chỉ dừng lại ở số liệu 6 tháng cuối năm 2016 tại một cơ sở đơn lẻ, chưa có sự so sánh đối chứng đa thời gian hoặc đối chiếu với các mô hình sản xuất nấm khác trên địa bàn tỉnh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá chuỗi giá trị và kênh liên kết tiêu thụ sản phẩm nấm mang nhãn hiệu tập thể "Nấm Thái Nguyên"; nghiên cứu ứng dụng công nghệ cơ giới hóa khâu đảo ủ, kiểm soát nhiệt ẩm nhà ươm tự động; và khảo sát khả năng đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm (kết hợp nuôi trồng nấm mộc nhĩ, nấm linh chi).

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Nông học và Khuyến nông: Cung cấp nguồn tư liệu thực địa về phương pháp tiếp cận đánh giá nhanh nông thôn (PRA), phương pháp thu thập dữ liệu nông hộ và phương pháp hạch toán kinh tế trang trại theo hệ thống chỉ tiêu $GO, IC, VA$.
  • Các hộ nông dân, chủ trang trại nông nghiệp: Toàn bộ định mức kỹ thuật quy trình 5 bước sản xuất nấm sò trên rơm rạ (tỷ lệ vôi tôi, thời gian ủ và đảo đống, kích thước túi, mật độ cấy giống, mật độ treo bịch 6–7 bịch/dây và chế độ phun sương) cùng bảng dự toán chi phí đầu tư nhà xưởng, máy móc là tài liệu hướng dẫn kỹ thuật - kinh tế cụ thể để áp dụng vào thực tế sản xuất.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ sở sản xuất nấm Sơn Xuyến phân bổ quỹ đất 7.000 m² cho các hạng mục sản xuất như thế nào?

Theo số liệu điều tra năm 2017 của khóa luận, toàn bộ 7.000 m² mặt bằng của cơ sở được phân bổ cho 6 mục đích: đất ở 500 m²; đất nuôi trồng nấm 2.000 m²; bãi đảo ủ nguyên liệu 1.500 m²; khu đóng bịch và lò hấp tiệt trùng 1.000 m²; phòng cấy giống 1.000 m²; và nhà ươm sợi 1.000 m².

2. Quy trình xử lý và ủ rơm rạ làm giá thể nấm sò tại cơ sở diễn ra theo những mốc thời gian nào?

Rơm rạ khô được làm ướt bằng nước vôi theo tỷ lệ 4 kg vôi đã tôi trên 1 tạ rơm rồi vớt ra để ráo. Rơm được chất lên kệ ủ có cọc thoát hơi ở giữa và bọc nilon giữ nhiệt. Sau 3–4 ngày tiến hành đảo đống ủ lần 1; tiếp tục ủ 3–4 ngày rồi đảo lần 2; sau 3–4 ngày tiếp theo dỡ đống ủ băm thành đoạn 7–10 cm và ủ lại trong 2 ngày trước khi đem cấy giống.

3. Doanh thu và lợi nhuận ròng của cơ sở trong 6 tháng cuối năm 2016 đạt bao nhiêu?

Tổng doanh thu của cơ sở đạt 515.000.000 đồng, bao gồm 480.000.000 đồng từ nấm thương phẩm (24.000 kg nấm từ 48.000 bịch) và 35.000.000 đồng từ bán 5.000 bịch nấm phôi. Sau khi trừ chi phí trung gian (248.330.000 đồng) và chi phí phân bổ tài sản cố định (44.000.000 đồng), cơ sở đạt lợi nhuận ròng là 222.670.000 đồng.

4. Các chỉ số phản ánh hiệu quả sử dụng chi phí và lao động ($GO/IC, VA/IC, GO/LĐ, VA/LĐ$) đạt giá trị bao nhiêu?

Kết quả hạch toán cho thấy: tỷ suất $GO/IC$ đạt 2,07 lần (đầu tư 1 đồng chi phí trung gian tạo ra 2,07 đồng giá trị sản xuất); tỷ suất $VA/IC$ đạt 1,07 lần (tạo ra 1,07 đồng giá trị gia tăng); năng suất lao động theo giá trị sản xuất ($GO/LĐ$) đạt 736.000 đồng/công; năng suất lao động theo giá trị gia tăng ($VA/LĐ$) đạt 381.000 đồng/công.

5. Mật độ giàn treo và chế độ tưới ẩm cho bịch nấm sò được quy định cụ thể ra sao?

Các bịch nấm sau khi rạch được tháo nút bông, ép khí, buộc kín cổ và treo úp miệng xuống; mỗi dây treo 6–7 bịch, bịch nọ cách bịch kia 15–20 cm; bịch dưới cùng cách mặt sàn 15–20 cm; khoảng cách giữa hai dây treo là 10–12 cm. Giai đoạn nấm ra quả thể được tưới phun sương 4–6 lần/ngày để bề mặt mũ nấm luôn giữ màng ẩm.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Hoàng Thị Chi đã phản ánh chi tiết và khách quan quy trình kỹ thuật sản xuất nấm sò trên giá thể rơm rạ cùng thực trạng kênh tiêu thụ tại Cơ sở sản xuất nấm Sơn Xuyến. Kết quả hạch toán tài chính trong 6 tháng cuối năm 2016 khẳng định mô hình sản xuất nông hộ quy mô tập trung này đạt hiệu quả kinh tế rõ rệt với tỷ suất $GO/IC$ đạt 2,07 lần và lợi nhuận ròng trên 222 triệu đồng. Công trình đồng thời chỉ rõ những điểm nghẽn về thị trường cục bộ, năng lực quản trị và kỹ thuật lao động, từ đó cung cấp căn cứ thực tiễn tin cậy cho công tác khuyến nông và phát triển nghề nấm tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.