MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài - Theo công bố hiện trạng rừng toàn quốc tính đến ngày 31/12/2017 của Tổng cục Lâm Nghiệp Việt Nam thì diện tích rừng trên toàn quốc có 14. Trong đó diện tích rừng tự nhiên có 10.415 ha, và diện tích rừng trồng có 4. Diện tích độ che phủ của rừng là 41.
Tuy nhiên diện tích và độ che phủ của rừng đã tăng lên đáng kể nhưng chất lượng rừng vẫn còn thấp. Hầu hết diện tích rừng tự nhiên là rừng trung bình và rừng nghèo, không còn khả năng đáp ứng được nhu cầu sản xuất hiện nay. Đặc biệt là rừng trồng trong những năm vừa qua năng suất đã nâng lên gần 24m3/ha/năm nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nguyên liệu cho nhu cầu sản xuất của xã hội. Trong những năm gần đây, đặc biệt là từ năm 2000 trở lại, ngành đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam gặt hái được nhiều thành quả to lớn, kim ngạch xuất khẩu năm sau luôn lớn hơn năm trước và đã đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của nền kinh tế nước nhà.
Đối với thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ, Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản luôn là ba thị trường xuất khẩu lớn, trọng điểm của sản phẩm gỗ xuất khẩu Việt Nam. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ vào các thị trường này vẫn còn rất khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của ngành. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm gỗ còn gặp nhiều khó khăn về thiếu hụt nguyên liệu cho sản xuất, thiếu vốn, năng lực chế biến của doanh nghiệp còn yếu cộng với thách thức về cạnh tranh rất gây gắt trong việc giành thị trường với các doanh nghiệp cùng ngành của Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Mỹ Latinh thách thức về áp lực thiếu hụt nguyên liệu Đặc biệt, trong năm 2008 và năm 2009, sự suy thoái kinh tế h 2 thế giới và khủng hoảng tài chính toàn cầu đang tác động xấu đến xuất khẩu Việt Nam nói chung và mặt hàng đồ gỗ xuất khẩu nói riêng. Do đó, việc đưa ra những chiến lược và giải pháp để khắc phục khó khăn, hướng tới việc đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam mang tính cấp bách và rất thiết thực.
(theo Tài Liệu.Vn, số ra 11/07/2013) [12] Theo chiến lược phát triển Lâm Nghiệp Việt Nam giai đoạn 2010-2020 đã đề ra Sản lượng gỗ trong nước 20 - 24 triệu m3/năm (trong đó có 10 triệu m3 gỗ lớn), đáp ứng về cơ bản nhu cầu nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến lâm sản, bột giấy và xuất khẩu. Đáp ứng nhu cầu củi chủ yếu dùng cho khu vực nông thôn và duy trì ở mức 25 - 26 triệu m3/năm. Xuất khẩu lâm sản đạt trên 7,8 tỷ USD (bao gồm 7 tỷ USD sản phẩm gỗ và 0,8 tỷ USD sản phẩm lâm sản ngoài gỗ). (theo Quyết định của thủ tướng chính phủ 18/2007/QĐ-TTG ngày 05/02/2007) [10] Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của kinh ngạch xuất khẩu gỗ vào khoảng trên 30% năm.
Con số này cho thấy nhu cầu nguồn nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ tăng mạnh từ năm 2010 đến năm 2020. Với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay nhu cầu gỗ cho xây dựng và các nhu cầu khác trên nội địa cũng được dự báo sẽ liên tục tăng để đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ càng tăng của xã hội ngành lâm nghiệp đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp lựa chọn các loài cây mọc nhanh và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng. Một trong những loài cây nguyên liệu có khả năng sinh trưởng nhanh được đề cập đến đó là cây Keo lai (Acacia hybrid). Cây Keo lai là 1 trong 48 loài cây trồng chính để trồng rừng sản xuất đã được Bộ Nông Nghiệp và PTNT công nhận tại QĐ số 16/2005/QĐ-BNN ngày 15/03/2005.
Keo lai không chỉ là giống có ưu thế sinh trưởng nhanh, biên độ sinh thái rộng, có khả h 3 năng thích ứng với nhiều loại đất mà còn có khả năng cải tạo đất, cải thiện môi trường sinh thái. Gỗ Keo lai được sử dụng làm ván sàn, ván dăm, trụ mỏ, và đặc biệt hơn cả là được sử dụng nhiều trong công nghiệp giấy. Keo lai có khối lượng gỗ lấy ra giấy gấp 2,3 lần Keo tai tượng và Keo lá tràm, hàm lượng xenlulô trong gỗ cao, lượng lignin thấp, do đó có hiệu suất bột giấy cao, chất lượng giấy tốt. Sản xuất cây giống lâm nghiệp bằng phương pháp cấy mô là lĩnh vực khá mới và phức tạp.
Để tạo ra nguồn giống tốt đòi hỏi người thực hiện phải hiểu biết cao về công nghệ cấy mô và có cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh để đáp ứng yêu cầu nhân giống. Khi đã có giống năng xuất cao thì việc nhân nhanh và đưa ra các giống đã được chọn lọc và trồng rừng sản xuất là vô cùng quan trọng. Trong các kỹ thuật nhân giống hiện nay ở nước ta thì nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô cho hiệu quả cao nhất, đặc biệt là chất lượng di truyền của giống cây được đảm bảo khả năng cung cấp số lượng lớn cây giống ở quy mô công nghiệp… Để thực hiện được yêu cầu này, việc nghiên cứu nhân giống cho các đối tượng mới được chọn tạo bằng nuôi cấy mô là việc làm có ý nghĩa trong nghiên cứu và sản xuất. Do vậy tôi thực hiện đề tài: “Thực hiện quy trình sản xuất cây Keo lai (Acacia hybrid) từ mô trong giai đoạn vườn ươm tại công ty Lâm Nghiệp Đồng Hỷ, Huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên” là cần thiết.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu - Nắm vững được trình tự các bước thực hiện quy trình sản xuất giống Keo lai từ mô trong giai đoạn vườn ươm. - Thực hiện được quy trình sản xuất cây Keo lai từ mô trong giai đoạn vườn ươm để tạo ra được giống cây tốt phục vụ cho công tác trồng rừng. - Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận, thông tin về cây Keo lai h 4 1.
Yêu cầu - Theo dõi sinh trưởng của cây từ khi cấy vào bầu - Theo dõi tỷ lệ sống của cây mô trong vườn ươm - Các yêu cầu và kỹ thuật chăm sóc cây mô sau khi cấy vào bầu để đạt được năng suất cao nhất. - Tìm hiểu các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại trong giai đoạn vườn ươm. h 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan tài liệu về vấn đề thực hiện Keo lai là tên viết tắt để chỉ giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá Tràm (Acacia auriculiformic), cây keo lai tự nhiên được phát hiện lần đầu vào năm 1972 trong số các cây keo tai tượng trồng ven đường ở Sabah – Malaixia.
Ở Thái Lan đầu tiên cũng tìm thấy keo lai được trồng thành đám ở Muak-Lek, Salaburi. Ở nước ta giống keo lai ở Ba Vì có nguồn gốc cây mẹ là Keo tai tượng xuất xứ Pain-tree bang Queensland – Australia. Cây bố là Keo lá tràm xuất xứ Darwin bang Northern Territory – Ôxtrâylia. Ở Đông Nam Bộ hạt giống lấy từ cây mẹ keo tai tượng xuất xứ Mossman và cây bố Keo lá tràm cũng ở Ôxtrâylia nhưng không rõ xuất xứ.
Về cơ bản các giống keo lai đã phát hiện ở nước ta đều có cây mẹ cùng vùng sinh thái giống nhau: Vĩ độ 12o20’-16o20’ Bắc, kinh độ 132o16’-145o,30’ Đông, lượng mưa 800-1900 mm. Keo lai có sức sinh trưởng nhanh hơn rõ rệt so với loài keo bố mẹ. Với một số dòng keo lai đã chọn lọc trồng thâm canh 3 tuổi đạt trung bình 8,6 - 9,8 m về chiều cao, 9,8-11,4 cm về đường kính, 19,4-27,2 m3/ha/năm về lượng sinh trưởng và 50-77 m3/ha về sản lượng gỗ. Rừng keo lai 7-8 tuổi đạt 150-200 m3 gỗ/ha, có thể nhiều hơn 1,5-2 lần rừng Keo tai tượng và Keo lá tràm.
Cây Keo lai được xác định là một trong những loài cây ưu tiên cho các chương trình trồng rừng hiện nay ở Việt Nam. Hiện nay, có rất nhiều dòng Keo lai đã được công nhận giống quốc gia là BV10, BV16, BV32, các dòng được công nhận giống tiến bộ kỹ thuật là BV5, BV29, BV33, TB6, TB12, KL2, KL20 và KLTA3. Trong đó, có 3 dòng KL2, KL20 và KLTA 3 dòng được h 6 Viện nghiên cứu giấy tuyển chọn và nhân giống đưa vào sản xuất phục vụ trồng rừng. Các dòng Keo KL2, KL20 và KLTA3 được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật theo Quyết định dố 2722 QĐ/BNN-KNCN, ngày 07/09/2004.
Quyết định số 1773 QĐ/BNN-KHCN, ngày 17/07/2005 và Quyết định số 1686 QQĐ/BNN-KHCN, ngày 09/06/2006. Nuôi cấy mô Keo lai với việc sử dụng đỉnh sinh trưởng, đã tái tạo được sự non trẻ (sự phát triển ngược phase hay làm trẻ hóa những cây thâ0n gỗ). Quy trình sinh tổng hợp DNA của virus không xảy ra trong tế bào đỉnh sinh trưởng vì vậy mô đỉnh sinh trưởng là mô duy nhất sạch virus. Nhờ những đặc tính này mà cây giống Keo lai được sản xuất từ phương pháp nuôi cấy mô đỉnh sinh trưởng có sức sống, có ưu thế hơn trong sản xuất gỗ lớn, tuổi thọ Keo lai mô kéo dài 10-11 năm, năng suất có thể đạt 230-250 m3/ha.
So với giống keo lai hom, việc trồng rừng bằng giống keo lai nuôi cấy mô có những ưu thế vượt trội. Trồng cùng thời gian và được chăm sóc giống nhau nhưng keo lai nuôi cấy mô cho đường kính và chiều cao thân cây lớn hơn 1,5 lần so với keo lai hom. Keo lai nuôi cấy mô cũng chậm ra hoa hơn so với keo lai hom, điều này cho thấy nó sẽ sinh trưởng tốt hơn trong giai đoạn tiếp theo. Mặt khác, keo lai nuôi cấy mô có khả năng chống chịu gió bão và sâu bệnh tốt hơn hẳn.
Nguyên nhân là do giống cây này sạch bệnh, khi phát triển thì thân lên thẳng, có rễ cọc chắc chắn nên chịu được gió mạnh. Vì vậy, rừng trồng từ giống keo lai nuôi cấy mô rất ít khi bị rủi ro nên giảm chi phí cho người trồng. Ngoài ra, giống keo này có thể trồng thành cây lâu năm lấy gỗ với thời gian khoảng 10 năm và chỉ cần trồng thưa nhưng mang lại giá trị kinh tế cao hơn. h 7 Keo nuôi cấy mô có quy trình lấy các giống cây đầu dòng từ Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam tuyển chọn, chuyển giao về các trại giống.
Sau khi nuôi cấy trong phòng thí nghiệm sẽ tiến hành nhân giống qua nhiều công đoạn để tăng số lượng. Mất khoảng 6 tháng cây mới cho ra rễ trong ống nghiệm, sau đó đem ra cho vào bầu đất, làm cho thích nghi với môi trường bên ngoài.