Đặt vấn đề Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta đang ngày càng phát triển. Chăn nuôi đã và đang làm thay đổi chất lượng cuộc sống, nâng cao mức thu nhập cho người dân, tạo ra các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Trong đó ngành chăn nuôi gia cầm được quan tâm hàng đầu vì nó có khả năng đáp ứng nhanh nhu cầu về thịt và trứng, tỷ lệ protein cao có đủ axit amin thiết yếu, giàu nguyên tố khoáng vi lượng làm tăng giá trị vi sinh vật học của sản phẩm. Nhu cầu về thực phẩm ngày càng lớn, số lượng và chất lượng đàn gà ngày càng được nâng cao, cải thiện.
Chăn nuôi gà hướng thịt thâm canh công nghiệp hóa, chăn nuôi tập trung ở nước ta đã trở thành một trong những nghề phát triển khá nhanh. Với những thuận lợi có được như hiện nay về các giống gà chuyên dụng, chăn nuôi gia cầm đòi hỏi phải có quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý, phù hợp để đảm bảo năng suất. Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm là điều kiện phát triển tốt cho các mầm bệnh. Gia cầm nói chung và gà nói riêng là loài vật nuôi mẫn cảm, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm.
Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm như: H5N1, Newcastle, CRD… Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số lượng và chất lượng đàn gà. Từ đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế và sự phát triển của chăn nuôi gà, đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp. Xuất phát từ tình hình thực tế, được sự đồng ý của Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của cô giáo TS. Trần Thị Hoan và của nơi thực tập, em thực hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn gà nuôi tại trang tại gia cầm Đinh Thị Thu Hà, xã Hòa Hưng, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu".
Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích của chuyên đề - Rèn luyện và nâng cao kỹ năng chẩn đoán lâm sàng, mổ khám trên gà. - Thực hiện quy trình phòng và điều trị bệnh trên đàn gà. Yêu cầu của chuyên đề - Nắm vững các nguyên tắc phòng trị bệnh cho vật nuôi nói chung.
- Thực hiện được quy trình phòng và điều trị bệnh trên đàn gà. - Thành thạo phương pháp chẩn đoán lâm sàng và mổ khám bệnh tích trên gà. - Đưa ra được phác đồ điều trị bệnh đối với đàn gà tại trang trại. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý - Xuyên Mộc là một huyện ven biển, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cách trung tâm thành phố Bà Rịa 40 km và cách thành phố Vũng Tàu 56 km. Vị trí địa lý của huyện: - Phía Bắc giáp huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
- Phía Tây Bắc giáp huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. - Phía Đông Giáp huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. - Phía Nam giáp Biển Đông. - Phía Tây giáp huyện Châu Đức và huyện Đất Đỏ.
- Huyện Xuyên Mộc có 13 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 1 thị trấn Phước Bửu và 12 xã: Bầu Lâm, Binh Châu, Bông Trang, Bưng Riềng, Hòa Bình, Hòa Hưng, Hòa Hội, Hòa Hiệp, Phước Tân, Tân Lâm, Phước Thuận, Xuyên Mộc. Đặc điểm khí hậu Huyện Xuyên Mộc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của đại dương. Hằng năm có 2 mùa rõ rệt: + Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm. + Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
- Lượng mưa trung bình hằng năm thấp (khoảng 1.560 mm) và phân bố không đều theo thời gian. Gần 90% lượng mưa cả năm tập trung vào mùa mưa và chỉ 10% tổng lượng mưa tập trung vào mùa khô. 4 Nhiệt độ trung bình năm là 270C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 30,30C (tháng 5), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 25 0C (tháng 1). Biên độ nhiệt độ dao động giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 5,3 0C.
Mùa khô do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, làm cho nhiệt độ không khí lạnh, mưa phùn, thiếu ánh sáng, ẩm ướt, tháng lạnh nhất là tháng 01. Độ ẩm không khí trung bình từ 77,71%, tháng 6 là tháng có độ ẩm cao nhất 82,4%, tháng 1 là tháng có độ ẩm thấp nhất 71,6%. Số giờ nắng trung bình hàng năm là 2.850 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng. Số liệu quan trắc tại trạm khí tượng năm 2020 cho thấy: Tháng 3 là tháng có số giờ nắng cao nhất 296 giờ, tháng 12 là tháng có số giờ nắng thấp nhất 160 giờ.
Điều kiện đất đai Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Xuyên Mộc là 640,48 km2. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 11.099,58 ha chiếm 70,93% diện tích đất tự nhiên; đất phi nông nghiệp có 4.021,69 ha chiếm 25,70% và đất chưa sử dụng là 526,74 ha, chiếm 3,37 %. Tiềm năng đất đai của huyện Xuyên Mộc là rất lớn, với diện tích đất chủ yếu phù hợp cho phát triển nông - lâm nghiệp; đất có tầng dày canh tác, chất lượng đất khá tốt. Quỹ đất hiện có của huyện Xuyên Mộc cũng rất thuận lợi cho việc quy hoạch các khu, các trung tâm xã.
Tuy nhiên, do địa hình không bằng phẳng, nằm xen lẫn với đồi núi thấp nên huyện Phù Ninh không có mặt bằng rộng để xây dựng các khu công nghiệp lớn, tập trung như các Huyện đồng bằng. Tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên rừng: hiện nay diện tích rừng còn lại khá lớn (khoảng 22.000 ha), chiếm 2/3 diện tích huyện, thuộc rừng nhiệt đới ở đầu rừng sông Ray và ven biển, đất rừng thuộc loại bằng phẳng. Đặc biệt Khu bảo tồn thiên nhiên 5 Bình Châu – Phước Bửu chạy dài 15km sát bờ biển thuộc 4 xã Bông Trang, Bưng Riềng, Bình Châu, Phước Thuận với diện tích hớn 7. Đây là loại rừng kín ẩm, luôn luôn giữ được màu xanh nhiệt đới duy nhất bên bờ Biển Đông, có giá trị về nghiên cứu sinh thái rừng ở môi trường ven biển.
Rừng nguyên sinh Xuyên Mộc có 200 loại thực vật thuộc 60 họ, trong đó có nhiều loại gỗ quý tốt như cẩm lai, chiêu liêu, bằng lăng… Các loại cây thuốc như đỗ trọng, thục linh, hà thủ ô… Rừng còn có một số động vật hiếm như nai, cheo, chồn, khỉ, heo rừng, các loại chim… Nguồn nước: Xuyên Mộc là huyện có sông Ray chạy qua, trữ lượng nước rất lớn kể cả mùa mưa và mùa hè. Đây thực sự là nguồn tài nguyên quý giá đóng vai trò chủ yếu trong việc cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, xây dựng và sinh hoạt của nhân dân. Xuyên Mộc có bờ biển dài 30km tiếp giáp vùng biển của huyện Long Đất và huyện Hàm Tân (Bình Thuận). Biển Xuyên Mộc thuộc vùng bán nhiệt triều, triều cao nhất là 3,9m, thấp nhất là 0,6m.
Biển Xuyên Mộc sạch đẹp, bờ biển dài, có rừng nguyên sinh ven biển (nay được qui hoạch thành Khu bảo tồn thiên nhiên) có thể xây dựng thành địa điểm tham quan du lịch, đón khách trong và ngoài nước. Bãi biển Hồ Cốc, Hồ Tràm cùng với suối nước khoáng nóng Bình Châu là những khu du lịch lý tưởng. Nguồn nước mưa: với tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1. Đây thực sự là nguồn nước lớn, cung cấp chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân; bổ sung lượng nước cho các sông, ngòi, hồ, đầm, nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện.
Nguồn khoáng sản: Xuyên Mộc có nguồn nước nóng Bình Châu và cát trắng. Cát trắng Bình Châu đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, tỷ lệ silicate tuyệt đối cao, tỷ lệ sắt chỉ có vết hoặc không có, tỷ lệ nhôm thấp, tạp chất không đáng kể. Cát 6 Bình Châu trắng, hạt mịn, là nguồn nguyên liệu quý để sản xuất các mặt hàng thủy tinh có giá trị tiêu dùng, xuất khẩu… 2. Điều kiện kinh tế xã hội Trong những năm gần đây, kinh tế của huyện Xuyên Mộc có những bước phát triển khá, tăng trưởng bình quân đạt mức cao và ổn định.
Năm 2020, thu nhập bình quân 56 triệu đồng/người/năm. Cơ cấu kinh tế: nông, lâm nghiệp, thủy sản 45,30% công nghiệp - xây dựng 19,50%; dịch vụ 35,20%. Về chính sách an ninh xã hội: Các chính sách an sinh xã hội được triển khai thực hiện tốt, giải quyết kịp thời, đầy đủ cho các đối tượng theo quy định. Triển khai thực hiện nhiều giải pháp giảm nghèo bền vững, tỷ lệ hộ nghèo chuẩn tỉnh giảm còn 1,74%.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 45%, tăng 19% so năm 2015, giải quyết việc làm cho 25.214 lượt lao động; tỷ lệ tham gia BHYT đạt 88% dân số. Về y tế: Mạng lưới y tế từ huyện đến cơ sở được quan tâm đầu tư và trang bị các máy móc, thiết bị hiện đại, từng bước đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ban đầu của nhân dân. Trung tâm y tế huyện được nâng cấp, mở rộng lên quy mô 200 giường bệnh, đảm bảo tiêu chuẩn bệnh viện hạng II; đội ngũ cán bộ y tế tiếp tục được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng phục vụ khám, chữa bệnh cho nhân dân. 100% xã, thị trấn đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế.
Về giáo dục và đào tạo: Toàn huyện có 35/61 trường đạt chuẩn quốc gia; tỷ lệ học sinh đạt khá giỏi, tốt nghiệp trung học cơ sở hàng năm đều tăng. Tỷ lệ cháu đi nhà trẻ đạt 28%, tỷ lệ cháu 5 tuổi đến lớp so với nhóm tuổi đạt 98%; tỷ lệ học sinh được công nhận hoàn thành tiểu học đạt 99,95%; học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 97,12%; có 90% thanh niên trong độ tuổi tốt nghiệp trung học phổ thông và tương đương. Mục tiêu: Tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, tăng cường thu hút đầu tư, lấy phát triển công nghiệp, dịch vụ là động lực tăng trưởng kinh 7 tế, tập trung lãnh đạo xây dựng nông thôn mới. Thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025.
Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội; tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân; củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.