CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU 1.1 Thông tin chung về ACB 1.1 Tổng quan về Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu Tên đầy đủ: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu. Tên giao dịch quốc tế: Asia Commercial Joint Stock Bank. Tên viết tắt: ACB. Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị: Ông Trần Hùng Huy.
Tổng Giám Đốc: Ông Từ Tiến Phát. Trụ sở chính: 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 5, Quận 3. Mã SWIFT code: ASCBVNVX. Mã cổ phiếu: ACB.
Website: https://acb.vn/ Logo: Hình 1-1. Logo ACB Ngân hàng TMCP Á Châu được thành lập theo Giấy phép số 0032/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 24/4/1993, và Giấy phép số 533/GP-UB do Ủy ban Nhân dân Tp. HCM cấp ngày 13/5/1993. Ngân hàng ACB chính thức đi vào hoạt động vào ngày 04/6/1993.
Sau gần 30 năm hoạt động, tính đến thời điểm hiện tại vốn điều lệ của Ngân hàng ACB đạt 27. Trong tương lai, Ngân hàng đề ra kế 9 hoạch tăng vốn điều lệ lên 33.774 tỷ đồng được công bố trong tài liệu họp Đại hội đồng cổ đông thường niên vào đầu năm 2022.2 Quá trình hình thành và phát triển Trải qua hơn 20 năm hoạt động, Ngân hàng TMCP Á Châu đã đạt được những thành quả đáng kể cùng với quyết tâm xây dựng thành một ngân hàng tân tiến và hiện đại hơn trong tương lai. Các cột mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của Ngân hàng ACB qua các giai đoạn: 04/6/1993: Ngân hàng ACB chính thức đi vào hoạt động. 27/4/1996: Thẻ tín dụng quốc tế ACB-Master Card được phát hành đầu tiên bởi Ngân hàng TMCP Á Châu ACB.
Năm 1997: Ngân hàng ACB tiếp cận nghiệp vụ Ngân hàng hiện đại, Ngân hàng đã chuẩn bị một cách nhanh chóng để đáp ứng các chuẩn mực quốc tế với hành động thực hiện đào tạo nghiệp vụ ngân hàng toàn diện kéo dài hai năm. Chương trình đào tạo này giúp ACB nắm bắt được nguyên tắc vận hành của một ngân hàng hiện đại, các chuẩn mực hợp lý trong quản trị rủi ro. Tuy nhiên vẫn nghiên cứu các điều kiện ở Việt Nam để áp dụng phù hợp. Cũng trong năm 1997, hội đồng ALCO thành lập (hội đồng quản lý tài sản nợ có) nắm giữ một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho ACB hoạt động hiệu quả.
Năm 1999: Áp dụng một cách hiện đại chương trình công nghệ thông tin ngân hàng nhằm trực tuyến, tin học hóa hoạt động của ACB. Năm 2000: Tái cấu trúc mở ra một kỷ nguyên mới. Cơ cấu được thay đổi theo định hướng kinh doanh và hỗ trợ. Các khối được chia ra thành: Khối khách hàng cá nhân, Khối khách hàng doanh nghiệp, Khối ngân quỹ và còn có Khối công nghệ thông tin, Khối giám sát điều hành, Khối phát triển kinh doanh, Khối quản trị nguồn lực và là đơn vị hỗ trợ.
Tổng giám đốc chỉ đạo Ban Chiến lược, Ban kiểm tra Kiểm soát nội bộ, Ban quản lý rủi ro tín dụng, Phòng Quan Hệ quốc tế và phòng thẩm định. Năm 2002: Hiện đại hóa ngân hàng. Vận hành Techcom Securities 10 Năm 2003: Chất lượng quản lý Đạt tiêu chuẩn ISO 9001:2000 trong các lĩnh vực trọng điểm như huy động vốn, thanh toán quốc tế, cho vay ngắn hạn và trung hạn và cung ứng nguồn lực. Đây là thời điểm một Ngân hàng TMCP lần đầu tiên phát hành thẻ ghi nợ quốc tế ACB-Visa Electron.
Năm 2004: Công nghệ sản phẩm tiên tiến: Đưa ra sản phẩm quyền chọn vàng, quyền mua bán ngoại tệ. Cung cấp những sản phẩm phái sinh đúng với nhu cầu khách hàng. Năm 2005: SCB và ACB ký kết thỏa thuận hỗ trợ về kỷ thuật đồng thời SCB trở thành cổ đông chiến lược lớn mạnh. Nhận ra tiềm năng, hai bên hỗ trợ đựa trên thế mạnh của mình mà khai thác triệt để thị trường bán lẻ Việt Nam.
Giai đoạn 2008-2010: Ngân hàng đạt lợi nhuận hơn 2.000 tỷ đồng và năm 2011 đạt lợi nhuận trước thuế cao nhất 4. Giai đoạn 2016-2017, cổ phiếu của ACB tăng 2,33 lần, đạt lợi nhuận trước thuế lên 2.290 tỷ đồng nhờ vào tăng trưởng tín dụng cao ở mức 20%. Bên cạnh đó, ACB đã xử lý được 3000 tỷ đồng nợ xấu, vượt xa kế hoạch định ra là 2. Năm 2018: ACB đạt lợi nhuận trước thuế 5.249 tỷ đồng do việc xử lý nợ xấu đã được thực hiện tốt vào năm 2017 trước đó.2 Tổ chức bộ máy quản lý của ACB 1.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy 11 Sơ đồ 1-1.
Sơ đồ tổ chức ACB 12 1.2 Chức năng, nhiệm vụ từng bộ phận Mỗi phòng ban trong bộ máy ngân hàng ACB đều có chuyên môn và trách nhiệm riêng. Song tất cả đều hoạt động chặt chẽ với nhau: Các bộ phận nghiệp vụ: Trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ được quy định tại Quy chế tổ chức điều hành, ACB có 10 khối và 17 phòng ban nghiệp vụ, trung tâm và văn phòng. Mỗi khối, phòng nghiệp vụ được uỷ quyền một số công việc chức năng cụ thể, tạo nên bộ máy hoạt động thông suốt trong toàn hệ thống ngân hàng. Khối khách hàng doanh nghiệp: Phụ trách các nghiệp cụ liên quan đến khách hàng doanh nghiệp, trong đó có phòng tín dụng doanh nghiệp phụ trách các nghiệp vụ tín dụng liên quan đến khách hàng doanh nghiệp, phòng thanh toán quốc tế thực hiện các nghiệp vụ về thanh toán quốc tế liên quan đến khách hàng doanh nghiệp.
Khối khách hàng cá nhân: Tương tự Khối khách hàng doanh nghiệp nhưng đối tượng phục vụ là các cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ của ngân hàng. Khối thị trường tài chính: Phòng Kinh doanh và quản lý vốn, Phòng Kinh doanh ngoại hối và vàng, Phòng Bán hàng sản phẩm ngân quỹ cùng Trung tâm Vàng ACB có trách nhiệm quản lý vốn ngân hàng, các hoạt động kinh doanh và đầu tư. Khối quản lý rủi ro: Các Phòng ban Quản lý rủi ro về tín dụng, thị trường và hoạt động cùng Bộ phận phòng chống rửa tiền phối hợp với nhau giúp giảm thiểu các rủi ro cho Ngân hàng ACB. Khối vận hành: Giữ vai trò tổ chức, triển khai, quản lý và xử lý tập trung các giao dịch của tất cả các nghiệp vụ ngân hàng.
Đồng thời vận hành về nghiệp vụ các hệ thống công nghệ xử lý giao dịch nhằm đảm bảo thực thi chính xác, hiệu quả các quy trình nghiệp vụ và tối ưu hóa chất lượng dịch vụ tại ACB. Khối quản trị nguồn nhân lực: Phòng Tuyển dụng và Phòng Phát triển nhân sự, Phòng Quản trị nhân sự, Trung tâm đào tạo đảm nhiệm chức năng chính là đào tạo nguồn nhân lực nhằm nâng cao chất lượng phục vụ của ngân hàng. 13 Khối quản trị hành chánh: Chịu sự lãnh đạo trực tiếp từ Tổng Giám Đốc và chịu trách nhiệm toàn bộ công tác hành chính quản trị tại Ngân hàng. Đảm nhiệm vai trò tham mưu cho Tổng Giám Đốc về công tác quy hoạch xây dựng tổng thể, hành chính và quản trị.
Khối công nghệ thông tin: Các Phòng ban về hạ tầng, phát triển và dịch vụ CNTT, Phòng Quản lý ứng dụng, cùng với Phòng kiến trúc, bảo mật và chính sách CNTT giữ chức năng chính là các nghiệp cụ liên quan đến sự bảo mật và công nghệ thông tin cho ngân hàng. Khối tài chính: Phòng Kiểm soát tài chính, Phòng Kế toán, Phòng quản trị kết quả hoạt động và Phòng quản trị bảng cân đối kế toán chịu trách nhiệm quản lý nguồn tài chính sao cho hiệu quả và kiểm soát nguồn tài chính cần thiết cho tất cả mọi hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của tại Trung tâm thẻ Ngân hàng Á Châu (Đơn vị tính: tỷ đồng) (Nguồn: Báo cáo thường niên Ngân hàng TMCP Á Châu) Chỉ tiêu Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021 Tổng thu nhập 24.8 Tổng chi phí 4.3 Lợi nhuận trước 20.5 thuế Lợi nhuận trước thuế trên doanh 83.59% thu Bảng 1-1. Kết quả hoạt động kinh doanh tại Trung tâm thẻ ngân hàng Á Châu ACB 14 Trong bối cảnh khu vực và thế giới có những thuận lợi và khó khăn đan xen. Năm 2021 Việt Nam đã chịu nhiều tác động tiêu cực từ bối cảnh bên ngoài do đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên toàn cầu.
Cuộc khủng hoảng này khiến cho nền kinh tế không ngừng bị ảnh hưởng khi dịch bệnh tính đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Trung tâm thẻ ngân hàng ACB đã không ngừng phát triển mạnh mẽ và có được những kết quả vượt ngoài mong đợi trong những năm trước khi đại dịch chưa diễn ra. Vào đầu năm 2019, thế giới nói chung cũng như Việt Nam nói riêng đã dần bị ảnh hưởng khi Trung Quốc là nước có những ca mắc phải Covid đầu tiên trên thế giới. Điều này, đã không ngừng làm ảnh hưởng đến tình hình kinh tế trong nước và các doanh nghiệp kinh doanh lớn nhỏ.
Những khó khăn này có tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của toàn bộ hệ thống ngân hàng ACB. Tuy vậy, về tổng thể Trung tâm thẻ - Ngân hàng ACB đã không ngừng nỗ lực cố gắng đưa ra những chiến lược hoạt động kinh doanh để không bị ảnh hưởng quá nhiều đến lợi nhuận và mục tiêu trong năm 2019. Tổng doanh thu đạt được trong năm 2019 đạt 24.3 tỷ đồng với tổng chi phí là 4.1 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế và phần trăm so với doanh thu lần lượt là 20. Trong giai đoạn năm 2020 – 2021, tổng thu nhập có biểu hiện tăng nhẹ nhưng không quá vượt bậc do nền kinh tế vẫn còn bị ảnh hưởng từ đại dịch Covid ở các nước Châu Âu.
Vào năm 2020, tại TP. Hồ Chí Minh chưa ghi nhận nhiều ca mắc Covid nhưng bị ảnh hưởng do nền kinh tế Thế giới. Với tổng thu nhập chỉ hơn năm 2019 là 3.3 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế đạt 23 tỷ đồng. Đặc biệt là vào năm 2021, TP.
Hồ Chí Minh đã có đợt giãn cách kéo dài trong vòng 5 tháng song đó kết quả kinh doanh của TTT ngân hàng ACB với tổng thu nhập là 28.8 tỷ đồng, tăng nhẹ so với năm 2020 nhờ vào các chiến lược đổi mới phù hợp với đại dịch. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng trong năm 2021 có xu hướng chậm lại trong quý 3 do việc giãn cách xã hội trên cả nước và chỉ tăng trở lại vào các tháng cuối năm vì nhu cầu tài chính tăng mạnh sau đại dịch. 15 Qua bảng trên ta thấy cùng với sự gia tăng chi phí thì nguồn thu của hoạt động kinh doanh thẻ cũng tăng và thậm chí tăng nhanh hơn chi phí dẫn đến lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng tại TTT ngân hàng ACB tăng đều qua các năm.