CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Tổng quan về cây Cam thảo bắc Cam thảo bắc có tên khoa học Glycyrrhiza glabra L. là cây nhỏ mọc nhiều năm, có một hệ thống rễ và thân ngầm rất phát triển. Thân ngầm dưới đất có thể đâm ngang đến 2 m. Từ thân ngầm này lại mọc lên các thân cây khác.
Thân cây mọc đứng cao 0,5-1,5 m. Thân yếu, lá kép lông chim lẻ, có 9-17 lá chét hình trứng. Hoa hình bướm màu tím nhạt; cụm hoa dày. Quả loại đậu, nhẵn và thẳng.
Cây được trồng ở nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, Mông Cổ, Liên Xô cũ, Hungari… Cam thảo bắc ưa khí hậu ôn hòa hoặc mát lạnh. Cây sống thích hợp ở nhiệt độ 18-20 oC. Những khu vực Cam thảo bắc mọc hoang là những nơi có đất khô, đất có canxi, đất cát, đất cát vàng. Những nơi có đất đen cứng chắc, kiềm tính và ẩm thấp thì chất lượng cam thảo kém hơn, nhiều xơ, ít bột, ít ngọt, rễ mọc cong queo.
Trồng bằng hạt hoặc thân rễ. Gieo hạt vào mùa xuân (tháng 2-3). Sau khi chọn đất thích hợp, làm tơi đất, lên luống cao 40-50 cm, mặt luống rộng 50-60 cm. Gieo 2-3 hàng theo chiều dài luống, hàng cách nhau 25-30 cm.
Mỗi ha bón lót 15-20 tấn phân chuồng mục. Sau khi gieo, lấp đất độ 1cm, sau khoảng 10-15 ngày cây mọc. Khi cây được 3 lá thì bắt đầu tỉa. Cây cách nhau khoảng 3 cm.
Khi cây mọc được 5 lá, tỉa lần cuối và ổn định mật độ, đảm bảo cây cách nhau 15-20 cm. Cần chú ý làm cỏ và vun xới, trung bình 1 tháng 1 lần.Trồng bằng hom vào mùa xuân. Vào tháng 2-3, trước khi cây tái sinh, có thể đào xung quanh gốc cây đã mọc 3 năm để lấy thân ngầm. Chú ý đào cách gốc 25-30 cm.
Cũng có thể kết hợp lấy giống khi thu hoạch dược liệu. Cắt thân ngầm thành từng đoạn 15-20 cm, mỗi hom có 2-3 chồi ngủ. Hom được ươm trong vườn. Trồng theo rạch khoảng cách 10 x 10 cm.
Lấp đất sâu khoảng 5 cm. Nén nhẹ mặt luống cho hom giống ổn định. Hàng ngày tưới nhẹ, đảm 6 bảo đất luôn ẩm và tơi xốp. Sau khi ươm khoảng 20 ngày, cây mọc.
Tháng 5-6, có thể bứng ra trồng ở ruộng sản xuất. Sau khi trồng khoảng 5 năm có thể thu hoạch.1 Cây, quả, hạt và rễ lát mỏng của Cam thảo bắc G.2 Thành phần hóa học của Cam thảo bắc Những nghiên cứu về Cam thảo bắc trên thế giới được thực hiện từ rất sớm vì đây là một vị thuốc truyền thống được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia, đặc biệt ở khu vực châu Á. Hầu hết các nghiên cứu thiên về tìm hiểu các hợp chất có trong rễ cây và tác dụng của các hợp chất này. Trong các loài Cam thảo bắc, Glycyrrhiza glabra là loài được nghiên cứu nhiều nhất về thành phần hóa học và dược tính.
Năm 2012,theo báo cáo tổng hợp của Kumar Anil và Dora Jyotsna từ các nghiên cứu khắp nơi trên thế giới, bằng các phương pháp phân lập, tách chiết sinh hóa, các nhà khoa học đã xác định Cam thảo bắc trưởng thành chứa các thành phần hóa học sau: - Quan trọng nhất là Glycyrrhizin, một saponin thuộc nhóm olean, hàm lượng từ 10-14% trong dược liệu khô, chỉ có trong bộ phận ở dưới mặt đất, có vị rất ngọt (gấp 60 lần đường saccharose). Glycyrrhizin được phân lập thu được dưới dạng mảnh màu vàng. Glycyrrhizin tinh khiết ở dạng bột kết tinh trắng dễ tan trong nước nóng, cồn loãng, không tan trong ether và chloroform. Glycyrrhizin ở trong cây dưới dạng muối Mg và Ca của acid glycyrrhizic (còn gọi là acid glycyrrhizinic) (Robiquet, 1809); 7 - Các dẫn xuất triterpenoid khác như: acid liquiritic, acid 18-alpha-hydroxy- glycyrrhetic, acid 24-hydroxyglycycrrhetic, glabrolid, desoxyglabrolid, isoglabrolid, 24-alpha-hydroxyisoglabrolid, acid liquiridiolic, acid 11- desoxoglycyrrhetic, acid 24-hydroxy 11-desoxoglycyrrhetic; - Các flavonoid là nhóm hoạt chất quan trọng thứ hai có trong rễ cam thảo với hàm lượng 3-4%.
Có 27 chất đã được biết, quan trọng nhất là hai chất liquiritin (hay liquiritirosid) và isoliquiritin (hay isoliquiritirosid). Ngoài ra, còn có nhiều flavonoid thuộc các nhóm khác: isoflavan (gla-bridin), isoflavon (glabron), isoflaven (glabren); - Hoạt chất estrogen steroid; dẫn chất coumarin: umbelliferon, herniarin, liqcoumarin; - Trong rễ cam thảo còn có 20-25% tinh bột, 3-10% glucose và saccharose. Phần trên mặt đất của cây cam thảo cũng đã xác định được các flavonoid: pinocembrin, prunetin, isomucronulatol.3 Tác dụng dược lý của cây Cam thảo bắc Cây Cam thảo bắc được sử dụng rộng rãi, là vị thuốc có mặt trong nhiều bài thuốc Đông y có tác dụng giải độc, chỉ khái, hóa đàm, chống co thắt cơ trơn, bảo vệ da, gan, hỗ trợ chống ung thư, trị viêm loét, kháng viêm, kháng khuẩn, kháng virus… Cam thảo bắc được sử dụng trong một số chế phẩm điều trị như: thuốc chữa ho, thuốc chữa loét dạ dày và ruột, thường hay phối hợp với bismuth nitrat kiềm, magiesium carbonat, calci carbonat, bột vỏ Rhamnus (hoặc đại hoàng), có acid glycyrrhetic nên được dùng làm thuốc chống viêm tại chỗ, dùng làm tá dược điều vị để làm mất các vị khó uống trong các chế phẩm. Vì có tác dụng chống co thắt, Cam thảo bắc còn được phối hợp làm trà nhuận tràng, làm mứt, nước uống, làm thơm thuốc lá.
Năm 2014,theo Muhammad Parvaiz và cộng sự, nhiều nghiên cứu lâm sàng hiện đại đã chứng minh được những dược tính này của Cam thảo bắc. 8 Dịch chiết Cam thảo bắc có tác dụng chống loét dạ dày. Tác dụng đã được chứng minh bằng thí nghiệm trên động vật. Trên chuột lang thì gây loét bằng cách tiêm những liều xác định histamin; trên chó thì gây loét bằng atophan (acid 2- phenyl quinolein 4-carboxylic); trên chuột cống thì thắt u môn.
Động vật thí nghiệm được mổ và quan sát tình trạng tổn thương trên niêm mạc dạ dày. Tác dụng chống co thắt của dịch chiết cam thảo được chứng minh trên ruột cô lập của chuột lang hoặc thỏ thấy có tác dụng đối kháng với histamin, acetylcholin. Tác dụng chống co thắt và tác dụng bảo vệ chống loét dạ dày chủ yếu là do các thành phần flavonoid. Tác dụng long đờm do các saponin.
Tác dụng tương tự như cortison do glycyrrhizin, giữ nước trong cơ thể kèm theo tích các ion Na+ và Cl- và tăng thải ion K+, giảm lượng nước tiểu, tăng huyết áp. Nếu dùng cam thảo một thời gian lâu thì có hiện tượng phù. Trong một số trường hợp thí nghiệm trên động vật cho thấy tác dụng chống viêm bằng 1/5 hydrocortison. Glycyrrhizin làm giảm những tổ chức hạt tạo thành xung quanh viên bông cấy dưới da của chuột cống trắng hoặc làm giảm độ sưng của chân chuột sau khi tiêm formol.
Acid liquiritic cũng có tác dụng chống viêm, chống loét và làm chóng lành sẹo. Tác dụng ức chế enzym monoaminoxydase (MAO) của 2 hoạt chất liquiritigenin và isoliquiritigenin cũng được phát hiện. Chất isoliquiritigenin có tác dụng mạnh hơn. Thí nghiệm trên động vật cho thấy Cam thảo bắc có khả năng giảm độc của morphin, cocain, strychnin, atropin, chloralhydrat, giải độc các độc tố bạch hầu, uốn ván.
Nghiên cứu gần đây còn cho thấy Cam thảo bắc có tác dụng nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể. Ngoài ra, Cam thảo bắc còn có mặt trong hơn hai mươi bài thuốc phổ biến chữa các chứng viêm nhiễm, đau dạ dày, lao phổi, viêm gan, rối loạn nhịp tim, addison… Sự có mặt của Cam thảo bắc vừa đóng vai trò chủ trị vừa có tác dụng điều hòa tính vị của các vị thuốc khác trong bài thuốc. Các chế phẩm có chứa thành phần Cam thảo bắc hiện có trên thị trường: thuốc trị dạ dày Vasu Pharma Herbals, Sri Sri Ayurveda; thuốc giải độc phổi, gan và máu 9 Yashti – madhu, thuốc trị ho Yashtimadhu; thực phẩm chức năng hỗ trợ cơ xương Hymalaya Herbals… Bột Cam thảo bắc cũng được sử dụng như một công thức làm đẹp, dưỡng da. Ở Việt Nam, các sản phẩm từ Cam thảo bắc phần lớn đều nhập từ Trung Quốc và Châu Âu.
Tình hình nghiên cứu vi nhân giống cây Cam thảo bắc Trên thế giới, đã có những nghiên cứu vi nhân giống Cam thảo bắc từ rất sớm, khá nhiều nghiên cứu vi nhân giống bằng chồi ngọn và đoạn thân mang chồi. Năm 1980, một báo cáo sơ bộ về vi nhân giống được trình bày bởi Shah và Dalal. Năm 1995, Mareshige Kohjyouma và cộng sự (Nhật Bản) nghiên cứu nhân chồi cây Cam thảo bắc Glycyrrhiza glabra bằng nguồn nguyên liệu là đoạn thân mang chồi ngủ, các đoạn thân này được cắt từ chồi 1 tháng tuổi nảy từ thân ngầm của Cam thảo bắc sau một tháng giâm hom. Nghiên cứu này của các tác giả được thực hiện với 3 đánh giá chính: Ảnh hưởng của NAA và BA đến sự hình thành chồi, ảnh hưởng của BA đến cảm ứng nhân chồi và sự kích thích tạo rễ.
Ở nội dung đầu tiên, các tác giả bổ sung vào môi trường nuôi cấy các tổ hợp của cả hai chất điều hòa sinh trưởng NAA và BA, với NAA ở 4 nồng độ 0 – 0,04 – 0,2 – 1mg/L và BA ở nồng độ 0 – 0,2 – 1 – 5mg/L, kết quả thu nhận được cho thấy những môi trường có BA mà không có NAA cho tỉ lệ mẫu nhân chồi cao, tuy nhiên những chồi này có nhiều biến dị, môi trường bổ sung 5mg/L BA kết hợp với 0 – 0,04 mg/L NAA có sự hình thành nhiều mô sẹo. Ở thí nghiệm tiếp theo, để kiểm tra ảnh hưởng của BA đối với sự nhân chổi, nhóm tác giả đã bổ sung BA với các nồng độ 0– 0,25 – 0,5 – 1 mg/L, kết quả cho thấy rằng khi sử dụng môi trường MS bổ sung 1 mg/L BA cho hiệu quả nhân chồi tốt nhất, sau 50 ngày thấy xuất hiện cảm ứng tạo chồi với số chồi hình thành cao nhất là 4,6 chồi/cụm. Chồi nhân được sau đó đưa vào cấy trong môi trường MS bổ 10 sung 0,01 – 0,5 mg/L NAA, sau 80 ngày sẽ cảm ứng tạo rễ và thành cây hoàn chỉnh. Năm 1998, Thengane và cộng sự đã mô tả một quy trình từng bước để nhân giống Glycyrrhiza glabra L.
trên môi trường nuôi cấy đơn giản từ nguồn nguyên liệu ban đầu là chồi ngọn và các đoạn thân mang chồi ngủ. Họ quan sát thấy tỉ lệ nhân chồi tăng đáng kể khi bổ sung vào môi trường MS chất điều hòa tăng trưởng BA với hàm lượng 0,2 – 2 mg/L. Sự tái sinh cây con in vitro đạt tỉ lệ cao đối với môi trường MS bổ sung với 0,5 mg/L BA và 0,05 mg/L NAA. Năm 2007, Patel và cộng sự báo cáo rằng môi trường MS bổ sung 2 mg/L BA và 0,05 mg/L NAA cho hệ số nhân chồi cao nhất, môi trường MS bổ sung 0,5 – 1 mg/L IBA là môi trường thích hợp để rễ Cam thảo bắc phát triển khỏe, bình thường.