Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu đa dạng thực vật trong mô hình nông lâm kết hợp huyện Phù Ninh, Phú Thọ - Học viện Khoa học và Công nghệ

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đa dạng thực vật trong mô hình nông lâm kết hợp tại Phù Ninh, Phú Thọ. Khám phá các loài cây và tầm quan trọng trong hệ sinh thái

Chuyên ngành

Sinh thái học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

225
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nông lâm kết hợp và đa dạng thực vật

Nông lâm kết hợp (agroforestry) là hệ thống canh tác tích hợp cây trồng nông nghiệp, cây lâm nghiệp và vật nuôi trên cùng một đơn vị diện tích. Hệ thống này tối ưu hóa tương tác sinh học giữa các thành phần. Nông lâm kết hợp không phải là khái niệm mới. Lịch sử phát triển của mô hình này trải qua nhiều giai đoạn. Tại Việt Nam, nghiên cứu nông lâm kết hợp bắt đầu từ những năm 1960. Đến thập niên 1980, lĩnh vực này trở thành vấn đề cấp bách. Các chương trình quốc gia đã được triển khai rộng rãi. Chương trình Môi trường 52D thực hiện mô hình nông lâm kết hợp trên vùng trung du miền núi phía bắc. Chương trình cấp Nhà nước Phủ xanh đất trống đồi núi trọc mã số 04A (1986-1990) do Bộ Lâm nghiệp chủ trì đẩy mạnh nghiên cứu. Đa dạng thực vật trong nông lâm kết hợp là chỉ số quan trọng đánh giá hiệu quả hệ thống. Chỉ số này phản ánh khả năng duy trì đa dạng sinh học trong canh tác. Nghiên cứu đa dạng thực vật giúp hiểu rõ cấu trúc và chức năng sinh thái của hệ thống nông lâm kết hợp.

1.1. Khái niệm nông lâm kết hợp theo tiêu chuẩn quốc tế

Nông lâm kết hợp được định nghĩa là hệ thống sử dụng đất có chủ đích. Hệ thống này kết hợp cây gỗ lâu năm với cây trồng nông nghiệp hoặc vật nuôi trên cùng một đơn vị đất. Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO) và Trung tâm Nông lâm kết hợp Quốc tế (ICRAF) đã xây dựng tiêu chuẩn đánh giá. Các tiêu chí bao gồm: mật độ cây che phủ, đa dạng loài cây trồng, khả năng tái tạo tài nguyên đất. Hệ thống nông lâm kết hợp phải đảm bảo cân bằng giữa sản xuất nông nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học. Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng chỉ số Ect (Effective Indicator of Farming System). Hệ số Ect càng gần trị số 1 thì hệ thống nông lâm kết hợp càng có hiệu quả cao.

1.2. Tình hình nghiên cứu đa dạng thực vật trong nông lâm kết hợp tại Việt Nam

Nghiên cứu nông lâm kết hợp tại Việt Nam đã được thực hiện từ những năm 1960. Các công trình nghiên cứu ban đầu tập trung vào vùng trung du miền núi phía bắc. Đến năm 1980, nghiên cứu trở thành vấn đề cấp bách. Chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước mã số 04A (1986-1990) là bước ngoặt quan trọng. Các dự án quốc tế của ICRAF triển khai tại nhiều tỉnh miền núi. Mạng lưới SEANAFE kết nối nghiên cứu giữa các nước Đông Nam Á. Thái Lan, Lào, Indonesia, Philippines và Việt Nam cùng hợp tác nghiên cứu. Các phương pháp đánh giá đa dạng thực vật được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. Nghiên cứu tại Phù Ninh, Phú Thọ thuộc dòng nghiên cứu mới về nông lâm kết hợp vùng trung du.

II. Phân tích thực trạng nông lâm kết hợp tại huyện Phù Ninh Phú Thọ

Huyện Phù Ninh nằm ở phía tây tỉnh Phú Thọ. Địa hình chủ yếu là đồi núi trung du. Diện tích tự nhiên khoảng 105,8 km². Khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.600-1.800 mm. Đất đai chủ yếu là đất feralit trên đá phiến sét. Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông lâm kết hợp. Tuy nhiên, thực trạng canh tác tại Phù Ninh còn nhiều hạn chế. Đa dạng cây trồng chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều hộ nông dân canh tác đơn điệu. Hiệu quả kinh tế thấp. Hệ thống giao thông huyện có 699,28 km đường, mật độ 6,61 km/km². Quốc lộ số 2 chạy dọc huyện từ bắc xuống nam dài 18 km. Đường tỉnh lộ có 61,5 km. Đường liên huyện 54,8 km. Đường liên xã 192 km. Hệ thống thủy lợi với sông Lô chạy qua dài 32 km. Có bốn ngòi tiêu lấy nước. Ba mươi lăm hồ đập vừa đảm bảo tưới tiêu. Bảy mươi mốt trạm bơm phục vụ khoảng 5.750 ha. Cơ sở hạ tầng cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển nông lâm kết hợp.

2.1. Đặc điểm tự nhiên và điều kiện sinh thái huyện Phù Ninh

Phù Ninh có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển nông lâm kết hợp. Địa hình đồi núi trung du tạo nhiều tiểu vùng sinh thái đa dạng. Đất feralit trên đá phiến sét có độ phì nhiêu trung bình. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23-24°C. Độ ẩm tương đối cao, trung bình 85%. Hệ sinh thái tự nhiên còn giữ được nhiều loài thực vật bản địa. Rừng thứ sinh phân bố trên các đồi núi. Thảm thực vật tự nhiên là nguồn gen quan trọng cho nghiên cứu đa dạng thực vật.

2.2. Thực trạng kinh tế xã hội và hạ tầng nông thôn Phù Ninh

III. Phương pháp nghiên cứu đa dạng thực vật trong nông lâm kết hợp

Nghiên cứu đa dạng thực vật trong nông lâm kết hợp tại Phù Ninh áp dụng phương pháp đa ngành. Phương pháp tiếp cận bao gồm khảo sát thực địa, thu mẫu và phân tích phòng thí nghiệm. Các ô mẫu được bố trí đại diện cho từng loại mô hình nông lâm kết hợp. Kích thước ô mẫu tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế. Thực vật được xác định loài theo hệ thống phân loại học hiện hành. Chỉ số đa dạng Shannon-Wiener được sử dụng đánh giá đa dạng loài. Chỉ số phong phú Margalef đánh giá sự phong phú loài. Chỉ số đều đặn Pielou đánh giá sự phân bố đồng đều. Phương pháp đánh giá hiệu quả nông lâm kết hợp sử dụng chỉ số Ect. Chỉ số này tính toán dựa trên ba tiêu chí: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Các tiêu chí định lượng được thảo luận với người dân địa phương. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm thống kê chuyên dụng. Kết quả nghiên cứu có giá trị khoa học và thực tiễn cao.

3.1. Thiết kế mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu thực vật

Thiết kế mẫu nghiên cứu tuân thủ nguyên tắc ngẫu nhiên có hệ thống. Các ô mẫu kích thước 20m x 20m được bố trí trong mỗi mô hình nông lâm kết hợp. Tại mỗi ô mẫu, ghi nhận toàn bộ các loài thực vật có mặt. Thông tin bao gồm: tên loài, đường kính thân, chiều cao cây, tầng tán. Mẫu thực vật được thu thập và ép khô để lưu trữ. Mẫu vật được xác định tại Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam. Dữ liệu về mật độ, tần suất xuất hiện và che phủ được ghi chép đầy đủ. Bảng câu hỏi phỏng vấn người dân thu thập thông tin về lịch sử canh tác. Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc giúp hiểu rõ tập quán canh tác truyền thống.

3.2. Phương pháp phân tích chỉ số đa dạng và đánh giá hiệu quả nông lâm kết hợp

Phân tích đa dạng thực vật sử dụng các chỉ số sinh thái học tiêu chuẩn. Chỉ số Shannon-Wiener (H') đánh giá đa dạng loài. Công thức: H' = -Σ(Pi x lnPi). Chỉ số Margalef (R) đánh giá phong phú loài. Công thức: R = (S-1)/lnN. Chỉ số Pielou (J) đánh giá đều đặn. Công thức: J = H'/lnS. Đánh giá hiệu quả nông lâm kết hợp dùng chỉ số Ect. Chỉ số Ect kết hợp ba nhóm tiêu chí: kinh tế, xã hội, môi trường. Mỗi nhóm tiêu chí có các chỉ báo định lượng cụ thể. Giá trị Ect dao động từ 0 đến 1. Hệ thống nông lâm kết hợp hiệu quả cao khi Ect接近 1. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm PAST và SPSS. So sánh giữa các mô hình bằng phương pháp ANOVA một chiều.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu nông lâm kết hợp tại Phù Ninh

Nghiên cứu đa dạng thực vật trong nông lâm kết hợp tại Phù Ninh mang lại nhiều kết quả quan trọng. Các mô hình nông lâm kết hợp đa tầng có đa dạng thực vật cao hơn so với canh tác truyền thống. Mô hình cây gỗ lâu năm kết hợp cây trồng ngắn ngày cho hiệu quả kinh tế tốt. Mô hình vườn rừng có đa dạng loài thực vật phong phú nhất. Đa dạng thực vật trong nông lâm kết hợp liên quan mật thiết đến hiệu quả canh tác. Hệ thống có đa dạng loài cao thường có hiệu quả kinh tế và môi trường tốt hơn. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Về mặt khoa học, luận án đóng góp dữ liệu về đa dạng thực vật vùng trung du. Về mặt thực tiễn, kết quả hướng dẫn nông dân áp dụng mô hình nông lâm kết hợp hiệu quả. Ứng dụng tại Phù Ninh và các huyện tương đồng ở Phú Thọ. Khuyến nghị chính sách hỗ trợ nông dân chuyển đổi canh tác bền vững.

4.1. Kết quả nghiên cứu đa dạng thực vật trong các mô hình nông lâm kết hợp

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt rõ rệt về đa dạng thực vật giữa các mô hình. Mô hình vườn rừng có chỉ số Shannon-Wiener cao nhất (H' = 2,85). Mô hình cây ăn quả kết hợp cây lương thực có chỉ số trung bình (H' = 2,12). Mô hình canh tác đơn canh có chỉ số thấp nhất (H' = 1,45). Số loài thực vật ghi nhận được trong các mô hình nông lâm kết hợp từ 45 đến 87 loài. Thực vật bản địa chiếm tỷ lệ cao trong các mô hình đa tầng. Cấu trúc tán nhiều tầng tạo điều kiện cho nhiều loài cùng phát triển. Hệ thống nông lâm kết hợp duy trì đa dạng sinh học tốt hơn so với canh tác thuần canh.

4.2. Ứng dụng và khuyến nghị phát triển nông lâm kết hợp bền vững tại Phù Ninh

Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất tại Phù Ninh cần lộ trình cụ thể. Giai đoạn đầu, tuyên truyền nâng cao nhận thức nông dân về nông lâm kết hợp. Giai đoạn hai, hỗ trợ kỹ thuật và giống cây trồng cho mô hình thí điểm. Giai đoạn ba, nhân rộng mô hình hiệu quả ra toàn huyện. Khuyến nghị chính sách ưu tiên vốn vay lãi suất thấp cho nông dân tham gia. Đào tạo tập huấn kỹ thuật nông lâm kết hợp cho cán bộ khuyến nông. Xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm nông lâm kết hợp. Liên kết tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp. Bảo tồn nguồn gen thực vật bản địa trong hệ thống canh tác. Phát triển du lịch sinh thái nông nghiệp kết hợp bảo tồn đa dạng thực vật.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

17/04/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu tính đa dạng thực vật trong các mô hình nông lâm kết hợp tại huyện phù ninh tỉnh phú thọ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm và định nghĩa về nông lâm kết hợp Nông lâm kết hợp (NLKH) là một phương thức canh tác có lịch sử lâu đời và theo P.Nair (1993) [1], là “tên gọi mới cho một phương thức canh tác cũ” bởi nó được coi là một lĩnh vực khoa học mới trong phát triển nông thôn dựa vào việc phát triển những hệ thống sử dụng đất bản địa vào thập niên 60 của thế kỷ XX. Cho tới nay, nhiều khái niệm khác nhau được phát triển nhằm diễn tả và tạo sự hiểu biết rõ hơn về NLKH. Cụ thể: Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất vững bền làm gia tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể cả cây trồng lâu năm), cây rừng và/hay với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên một diện tích đất và áp dụng các kỹ thuật canh tác tương ứng với các điều kiện văn hóa xã hội của dân cư địa phương, (Bene và cộng sự, 1977- dẫn theo P.

Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản phẩm của rừng và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích đất thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân cư tại địa phương, (ICRAF, 1999). Nông lâm kết hợp là tên gọi chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó các cây lâu năm (cây gỗ, cây bụi, các cây họ cau dừa, tre trúc, cây ăn quả cây công nghiệp…) được trồng có suy tính trên cùng một đơn vị diện tích với hoa màu và/hoặc với vật nuôi dưới dạng xen theo không gian hay theo thời gian. Trong các hệ thống NLKH có mối tác động tương hỗ qua lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần trong hệ thống (Lundgren và Raintree, 1983) [3]. Các khái niệm trên mô tả NLKH như là một loạt các hướng dẫn để sử dụng đất liên tục ở nhiều mức độ phát triển khác nhau.

Tuy nhiên, trong thực tế NLKH đã phát triển như là một ngành kỹ thuật, trong đó có mối liên hệ chặt chẽ tới các vấn đề về kinh tế - xã hội và đã hình thành nên một điều gì đó khác hơn là các hướng dẫn để sử dụng đất. Trong bối cảnh mới, NLKH được xem như là một ngành nghề và một cách tiếp cận về sử dụng đất trong đó đã phối hợp sự đa dạng của quản lý tài nguyên tự nhiên 5 một cách bền vững để hình thành nên các hệ thống kinh tế - sinh thái - nhân văn. Bởi vậy, khái niệm về NLKH còn có thể được hiểu ở các khía cạnh khác như sau: Nông lâm kết hợp là các hệ thống quản lý tài nguyên đặt cơ sở trên đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững việc sản xuất giúp gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường của các nông trại nhỏ (Leaky, 1996 - dẫn theo Phạm Quang Vinh và cs, 2005). NLKH là trồng cây trên nông trại và định nghĩa nó như là một hệ thống quản lý tài nguyên tự nhiên rất linh hoạt và lấy yếu tố sinh thái là chính, qua đó cây được phối hợp trồng trên nông trại và vào hệ sinh thái nông nghiệp làm đa dạng và bền vững sức sản xuất để gia tăng các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho người canh tác ở các mức độ khác nhau.

Ngoài ra, về cấp độ cảnh quan có thể hiểu NLKH theo nghĩa rộng, đó là một phương thức sử dụng đất tổng hợp trên một vùng hay một lưu vực, trong đó có mối quan hệ tương tác giữa các hệ sinh thái tạo ra cân bằng sinh thái để sử dụng triệt để tiềm năng sản xuất của một vùng hay một lưu vực và trong đó hệ sinh thái rừng giữ vai trò chủ đạo. Đây là một cách tiếp cận mới để phát triển NLKH trên qui mô cảnh quan một cách bền vững hơn. Ở cấp độ này, có thể nhận thấy NLKH không chỉ là sinh kế của một hộ gia đình mà là sinh kế và mang lại lợi ích cả cộng đồng người dân sống tại đó (Peter Huxley, 1999) [5]. Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền núi phía bắc (2008) đưa ra định nghĩa như sau: Nông Lâm kết hợp là một phương thức sản xuất kinh doanh có khoa học, nó kết hợp một cách hài hoà giữa cây nông nghiệp và cây lâm nghiệp giữa trồng trọt và chăn nuôi, sử dụng một cách đầy đủ nhất, hợp lý nhất để sản xuất ra nhiều sản phẩm mà không ảnh hưởng đến đất đai.

Môi trường sinh thái bền vững, tốn ít chi phí mang lại hiệu quả kinh tế cao. Như vậy Nông lâm kết hợp là một thuật ngữ dùng để chỉ một hệ thống sử dụng đất trong sản xuất nông lâm nghiệp bằng việc phối hợp một cách có hiệu quả các thành phần cây trồng và vật nuôi một cách hiệu quả, cho năng suất và thu nhập cao, bảo vệ được đất đai và tránh được rủi ro trong quá trình canh tác. Lịch sử phát triển của nông lâm kết hợp 1.Trên thế giới Hệ thống canh tác nông lâm kết hợp thường được các nhà nghiên cứu gọi là hệ thống nông lâm kết hợp (NLKH) làmột phương thức thức sản xuất nông nghiệp có từ lâu đời. Khó có thể xác định được một cách chính xác thời điểm mà tại đó NLKH ra đời.

Mặc dù vậy, người ta vẫn thừa nhận rằng sự hình thành và phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của các ngành khoa học thuộc lĩnh vực nông, lâm nghiệp và gắn liền với nhận thức của con người về sử dụng đất và các nhu cầu kinh tế. Canh tác cây thân gỗ cùng với cây trồng nông nghiệp trên cùng một diện tích là một tập quán sản xuất lâu đời của nông dân ở nhiều nơi trên thế giới. King (1987) [7], cho đến thời Trung cổ ở châu Âu, vẫn tồn tại một tập quán phổ biến là “chặt và đốt” rồi sau đó tiếp tục trồng cây thân gỗ cùng với cây nông nghiệp hoặc sau khi thu hoạch nông nghiệp. Hệ thống canh tác này vẫn tồn tại ở Phần Lan cho đến cuối thế kỷ XIX và vẫn còn ở một số vùng của Đức đến tận những năm 1920.

Nhiều phương thức canh tác truyền thống ở châu Á, châu Phi và khu vực nhiệt đới châu Mỹ đã có sự phối hợp cây thân gỗ với cây nông nghiệp để nhằm mục đích chủ yếu là hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp và tạo ra các sản phẩm phụ khác như gỗ, củi, đồ gia dụng,… (Auguicta Molnar, 1991 [8] và Bass & Morrison, 1994 [9]). Tại Trung Quốc, khi lần theo những dấu vết trong quá khứ ở giai đoạn đầu của nông nghiệp lúc sơ khai người ta đã nhận ra canh tác kết hợp giữa cây gỗ và cây nông nghiệp đã được hình thành từ rất lâu đời và được sử sách ghi lại. Từ triều đại nhà Hán (206 trước Công nguyên đến 220 sau Công nguyên), lịch sử cổ đại có ghi lại tỉ mỷ về kỹ thuật trồng xen cây gỗ với chăn nuôi và cây nông nghiệp trong cuốn sách cổ “Chimin Yaoshu” (Trí dân yếu thư) và tạm hiểu là cuốn sách ghi về những mưu kế trọng yếu vì phúc lợi con người. Nhiều tài liệu nghiên cứu trên thế giới đều thống nhất là, cội nguồn của NLKH đã xuất hiện từ thời kỳ đồ đá mới (ICRAF, 1994 [11], Peter Huxley, 1999 [5] và bắt đầu từ canh tác nương rẫy.

Mặc dù, nhân loại đã trải qua nhiều hình thái xã hội khác nhau những cho đến nay, tại thế kỷ XXI, nương rẫy vẫn còn tồn tại. Điều đó nói lên sức sống mãnh liệt của hình thức canh tác này, người ta vẫn có thể tìm thấy ở đây những “lợi 7 thế” của nương rẫy và qua đó có thể nhận biết được lịch sử hình thành và phát triển của NLKH như thế nào (Peter W. Tóm lại, NLKH là một phương thức canh tác phổ biến ở tất cả các châu lục và tồn tại trong nhiều thế kỷ. Sự phát triển và phân hóa xã hội sau này đã làm cho phương thức canh tác NLKH có những thay đổi và phát triển ở các mức độ và xu hướng rất khác nhau.

Ở Việt Nam Khó có thể xác định được một cách chính xác thời điểm mà tại đó NLKH ra đời. Mặc dù vậy, người ta vẫn thừa nhận rằng sự hình thành và phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của các ngành khoa học thuộc lĩnh vực nông, lâm nghiệp và gắn liền với nhận thức của con người về sử dụng đất và các nhu cầu kinh tế. Canh tác NLKH đã có ở Việt Nam từ lâu đời, như các hệ thống canh tác nương rẫy truyền thống của đồng bào các dân tộc ít người, hệ sinh thái vườn nhà ở nhiều vùng địa lý sinh thái trên khắp cả nước, v. Làng truyền thống của người Việt cũng có thể xem là những hệ thống NLKH bản địa với nhiều nét đặc trưng về cấu trúc và các dòng chu chuyển vật chất và năng lượng (Trần Đức, 1998) [13].

Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, song song với phong trào thi đua sản xuất, hệ sinh thái Vườn - Ao - Chuồng (VAC) được nhân dân các tỉnh miền Bắc phát triển mạnh mẽ và lan rộng khắp cả nước với nhiều biến thể khác nhau thích hợp cho từng vùng địa lý - sinh thái. Sau đó, dưới áp lực về dân số và thiếu đất canh tác, các hệ thống Rừng -Vườn - Ao - Chuồng (RVAC) và vườn đồi được phát triển mạnh ở các khu vực dân cư trung du, miền núi phía Bắc và cả Tây Nguyên. Các hệ thống rừng ngập mặn, nuôi trồng thủy sản cũng được phát triển ở vùng duyên hải các tỉnh cả ba miền Bắc, Trung, Nam (Bảo Huy, Võ Hùng, 2011) [14]. Các dự án tài trợ quốc tế cũng giới thiệu một số mô hình canh tác trên đất dốc SALT từ kết quả thử nghiệm tại Viện nghiên cứu tái thiết nông thôn ở Philippines IIRR, (Phạm Quang Vinh, Phạm Xuân Hoàn, Kiều Trí Đức (2005) [4].

Trong những thập niên gần đây, nông lâm kết hợp được xác định là “giải pháp hữu hiệu” để phát triển nông thôn bền vững ở các khu vực có tiềm năng là một chủ trương đúng đắn của Đảng và nhà nước Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ