Đặt vấn đề Dược liệu có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người. Từ xưa, ông cha ta đã biết sử dụng, chế biến dược liệu để chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. Ngày nay, nhu cầu sử dụng dược liệu của người dân ngày càng gia tăng bởi ít tác dụng phụ và phù hợp với quy luật sinh lý của cơ thể. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 80% dân số hiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng [43].
Theo số liệu thống kê của ngành Y tế, mỗi năm ở Việt Nam tiêu thụ từ 30-50 tấn các loại dược liệu khác nhau để sử dụng trong y học cổ truyền làm nguyên liệu cho công nghiệp Dược và xuất khẩu. Trong đó, trên 2/3 khối lượng này được khai thác từ nguồn cây thuốc mọc tự nhiên và trồng trọt trong nước. Riêng từ nguồn cây thuốc tự nhiên đã cung cấp tới trên 20. Do không có chính sách quản lí chặt chẽ nên nhiều loài cây dược liệu tự nhiên bị khai thác ồ ạt, không chú ý tới bảo vệ, tái sinh làm cho nguồn tài nguyên dược liệu giảm sút nghiêm trọng, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Yêu cầu đặt ra là cần phải bảo tồn nguồn gen, nhân nhanh các loài cây dược liệu quý hiếm và tìm ra những loài cây dược liệu thay thế. Hiện nay, nhu cầu làm đẹp của phái nữ ngày một gia tăng mạnh mẽ. Tuy nhiên, các mỹ phẩm tổng hợp và pha chế được bán trên thị trường thường gây hại cho da sau một thời gian sử dụng. Vì vậy, các công ty dược- mỹ phẩm phải tìm đến những hợp chất được chiết xuất từ những cây cỏ tự nhiên.
Ở Việt Nam có rất nhiều cây thuốc quý được sử dụng để cải thiện sắc đẹp như: trinh nữ hoàng cung, ngưu tất, hà thủ ô, cây rau sam, diệp hạ châu, cây lá bỏng, lá dâu tằm, lá trầu không,…[47]. Cây Đông hầu vàng (Turnera ulmifolia) là loài cây có nhiều công dụng đối với cơ thể, đặc biệt có tác dụng làm đẹp cho phụ nữ như làm trắng da, kéo dài tuổi thanh xuân. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, cây 1 Đông hầu vàng là cây nhập nội với số lượng hạn chế, cần được nhân nhanh để tạo nguồn giống. Nuôi cấy mô tế bào là một kỹ thuật rất quan trọng của công nghệ sinh học thực vật.
Những thành tựu mà nuôi cấy mô tế bào đạt được đã chứng tỏ khả năng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là nhân nhanh và bảo tồn những loài quý hiếm. Từ các lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Xây dựng quy trình nhân giống in vitro cây Đông hầu vàng (Turnera ulmifolia)” nhằm phát triển cây Đông hầu vàng làm thuốc ở Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu Xây dựng được quy trình nhân giống in vitro cây Đông hầu vàng (Turnera ulmifolia). Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu công thức khử trùng hạt Đông hầu vàng.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chất phụ gia đến sự sinh trưởng của cây Đông hầu vàng. - Nghiên cứu ảnh hưởng của nhóm cytokinin, tổ hợp nhóm cytokinin và auxin, 2,4- D đến khả năng tạo đa chồi cây Đông hầu vàng. - Nghiên cứu ảnh hưởng của nhóm auxin đến khả năng tạo rễ cây Đông hầu vàng. - Nghiên cứu giá thể thích hợp để đưa cây Đông hầu vàng ra ngoài tự nhiên.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây Đông hầu vàng 1. Đặc điểm phân loại và đặc điểm sinh học Cây Đông hầu vàng có tên tiếng Anh là Yellow Turnera, Yellow Alder, Yellow Elder, West Indian Holly hay Sage Rose. Tên tiếng Việt là Đông hầu vàng, Kim ngân, Dừa thái vàng hay Dừa vàng.
Tên khoa học là Turnera ulmifolia, là một loài thực vật thuộc chi Đông hầu (Turnera), phân họ Hoa thời chung hay phân họ Đông hầu (Turneroideae), họ Lạc tiên (Passifloraceae) (trước đây chi này được đặt trong họ Đông hầu (Turneraceae), bộ Sơ ri (Malpighiales) [2], [6]. Cây Đông hầu vàng có nguồn gốc từ Châu Mỹ. Ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhất là châu Mỹ và châu Phi có 20 họ và 120 loài. Một số loài thuộc chi Đông hầu như Turnera arcuata, Turnera angustifolia Mill., Turnera aurelii, Turnera caerulea, Turnera candida, Turnera chamaedryfolia, Turnera difusa Willd., Turnera velutina, Turnera weddelliana…[44].
Cây Đông hầu vàng Các cây thuộc họ Đông hầu từ lâu đã được biết đến như một loại thảo dược nổi tiếng ở châu Mỹ với công dụng tăng cường sức khỏe sinh sản, được người Maya cổ và người Mexico sử dụng rộng rãi. Y học hiện đại thì coi đây như một loại trà kích thích khả năng sinh lý. Lá Đông hầu còn có lợi ích tốt cho phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, giảm chuột rút, mệt mỏi, lo lắng và đau đầu 3 do khả năng điều tiết và cân bằng nội tiết tố nữ [40]. Đại diện duy nhất của họ này tại Việt Nam là cây Đông hầu vàng (Turnera ulmifolia) có nguồn gốc ở Mexico và Tây Ấn [42].
Cây Đông hầu vàng là một loại cây có phân bố địa lý rộng. Cây được nhập cư rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Cây thích nghi với nhiều loại đất, điều kiện môi trường và có khả năng sinh sản cao nên định cư được ở các môi trường sống mới. Sự phân tán hạt trong loài này là do khả năng thu hút kiến làm cho những con kiến vận chuyển hạt giống trong khoảng cách tương đối ngắn tạo thuận lợi cho việc hình thành quần thể dày đặc và tăng khả năng tạo ra hạt [16], [18], [45].
Cây Đông hầu vàng là cây bụi nhỏ, cao khoảng 1m, phân nhiều cành. Lá đơn, mọc so le, hình trái xoan hẹp, dài khoảng 5-6cm, rộng 2,5cm, hai đầu nhọn, mép khía răng cưa nhọn, gân lá hình lông chim, nổi rõ, gốc phiến lá có 2 tuyến nhỏ, cuống ngắn có lông mềm, vò lá có mùi hăng nhẹ [6]. Hoa cây Đông hầu vàng là hoa đơn, thường nở vào buổi sáng, tàn vào buổi trưa, hoa mẫu năm, đường kính hoa 5-6cm, cuống ngắn, mọc ra từ cuống lá, 2 lá bắc hẹp dài, 5 lá đài hình mũi mác nhọn, do các lá đài và cánh hoa họp lại tạo thành, các thùy của tràng xếp vặn, nhị 5 xen kẽ với cánh hoa và không có vành phụ, vòi nhụy rời và xẻ nhiều ở đỉnh (mỗi vòi có dạng bút lông), 5 cánh hoa hình bầu dục, màu vàng, mặt trong gốc cánh hoa màu vàng nâu, có 5 nhị rời và bầu nhẵn. Ra hoa quanh năm, rộ nhất vào mùa hè [6].
Hoa và hạt cây Đông hầu vàng 4 Quả Đông hầu vàng có hình cầu, nhiều hạt, quả bế, khi già nở tung tạo điều kiện cho hạt phát tán ở khảng cách ngắn [41]. Hạt Đông hầu vàng nhỏ, màu nâu sẫm, nảy mầm vào mùa xuân, được bảo quản ở nhiệt độ thường. Giá trị cây Đông hầu vàng Cây Đông hầu vàng có hương thơm nồng, vị hơi đắng. Lá được dùng làm hương liệu cho mùi rượu.
Ở Mexico, người ta dùng để thay thế cho cây trà. Tác dụng của cây là bồi bổ, xổ nhẹ và lợi tiểu, chống suy nhược, làm thuốc kéo dài tuổi thanh xuân cho cả nam và nữ [41], [46]. Thành phần chính của cây Đông hầu vàng gồm: Flavonoid (22 hợp chất khác nhau), arbutin (chiếm 7%), tinh dầu (khoảng 0,5%), deltacadinee (10%), thymol (4%), cyanogenic glycosides (tetraphyllin, 7 hợp chất khác nhau), maltol glucoside, phenolics, monoterpenoids, sesquiterpenoid, triterpenoid, polyterpene ficaprenol-11, axit béo, caffeine, ethanol, nhựa thông, chất nhựa, alkaloid [34], [38], [46]. Flavonoid có tác dụng chống đông máu, phòng ngừa viêm loét niêm mạc dạ dày và tá tràng, giảm thương tổn dạ dày do sự kết hợp của indomethacin và bethanechol, giảm chứng loét dạ dày do stress gây ra [24].
Khả năng kích thích tình dục có thể do một loại alkaloid trong cây thuốc có tác dụng như hormone sinh dục testosterone ở nam [48]. Dịch chiết Đông hầu vàng có khả năng bảo vệ gan, chống lại tổn thương gan gây bởi carbon tetrachloride [46]. Arbutin trong cây Đông hầu vàng có tác dụng làm trắng da nhờ khả năng ức chế enzyme sản sinh melanin mà không có tác dụng phụ, chống lão hóa và ngăn các gốc tự do. Tinh dầu giúp tinh thần sảng khoái, giảm đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều, chống nhiễm trùng, làm căng da, mịn da [41].
Cây Đông hầu vàng chứa chất thymol có tác dụng kích thích lên cơ thể và giúp hồi phục hệ thần kinh. Chất này được dùng cho các bệnh nhân bị bệnh suy nhược hay suy nhược thần kinh ở mức độ nhẹ cho đến vừa phải [41]. 5 Cây Đông hầu vàng có khả năng cải thiện sức khỏe sinh sản, giúp trị xuất tinh sớm và bất lực ở nam, điều hòa nội tiết và kinh nguyệt ở nữ [41]. Cây Đông hầu vàng có đặc tính lợi tiểu và khử trùng nước tiểu, do đó nó được dùng để trị các bệnh nhiễm trùng các cơ quan tiết niệu như bệnh viêm bàng quang, viêm ống dẫn nước tiểu.
Bên cạnh đó, chất nhựa trong cây có tác dụng như dịch vị dạ dày giúp tiêu hóa tốt, do đó, cây cũng được dùng để trị bệnh táo bón do cơ ruột co bóp kém [24], [46]. Chiết xuất của Đông hầu vàng (Turnera ulmifolia) cùng với Parkia platycephala Benth và Dimorphandra Gardneriana được sử dụng trong chống nhiễm trùng giun sán ở các loại gia súc nhai lại nhỏ như ở dê [31]. Chiết xuất từ Đông hầu vàng và Mentha arvensis L. khi kết hợp với thuốc chống nấm Metronidazole làm cho khả năng kháng nấm Candida tropicalis được tăng cường [36].
Cao Đông hầu được cô đặc từ hơn 7 loại cây thuốc quý hiếm như Đông hầu vàng, Thành ngạnh, Dây cóc,… có tác dụng làm căng da, mờ nhăn, kích thích quá trình tăng sinh collagen gấp 8 lần so với bình thường, phục hồi da, làm trẻ hóa da và chống lão hóa, làm se khít lỗ chân lông, cân bằng độ ẩm và trị mụn hiệu quả cao [49]. Ngoài ra, các loài trong chi Đông hầu còn được sử dụng để điều trị các bệnh như thiếu máu, viêm phế quản, ho, tiểu đường, giảm đau, phổi và các bệnh đường hô hấp, rối loạn da [46]. Cây thuốc, vị thuốc Đông hầu vàng có thể có những dạng bào chế như thuốc viên, bột, cao, trà, rượu thuốc. Cây thuốc này thường được dùng kết hợp với các thuốc khác để tăng cường tác dụng của thuốc.
Liều dùng khác nhau đối với từng bệnh nhân, lứa tuổi và tình trạng sức khỏe. Thuốc không được dùng cho trẻ em, phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú, những người bị bệnh gan, tiểu đường hoặc quá mẫn cảm với các thành phần trong cây [48].