Đặt vấn đề Ở nước ta, hoa và cây cảnh có thể nói là những loài thực vật rất quan trọng trong cuộc sống ngày nay. Con người chúng ta dùng hoa để thể hiện tình cảm cảm xúc, dùng hoa để trang trí cảnh quan, dùng hoa vào những ngày trọng đại. Có thể nói hoa cây cảnh đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống hiện đại, cung cấp các giá trị về thẩm mỹ cũng như tinh thần,. Cùng với những giá trị mà hoa, cây cảnh đem lại, nhu cầu tiêu thụ các loại hoa, cây cảnh ở Việt Nam là rất lớn, có rất nhiều loại hoa cây cảnh đem lại giá trị kinh tế cao.
Nổi bật nhất trong những năm gần đây có thể kể tới hoa Lan – một loài hoa có rất nhiều chủng giống với nhiều kiểu dáng màu sắc khác nhau. Việt Nam có khoảng 800 loài lan rừng mọc tự nhiên ( Trần Hợp -1998). Trong đó Lan Hoàng Thảo là một trong những chi lan có số lượng loài lớn nhất và có vùng nguồn gốc thuộc các nước Đông Á và Nam Á, Đông Nam Á có khí hậu ôn đới, nhiệt đới. Nước ta có khoảng 101 loài phân bố rải rác từ Bắc vào Nam.
(Trần Hợp - 2000) Trong số các loài lan được ưa chuộng hiện nay, lan Hoàng Thảo được xếp vào nhóm trồng phổ biến nhất bởi sự đa dạng về hình thái, màu sắc và hương thơm của hoa, hơn nữa, chúng cũng không đòi hỏi quá ngặt nghèo về điều kiện trồng và chăm sóc. Bên cạnh đó, đây là loại hoa được đánh giá sinh trưởng khỏe, có năng suất chất lượng hoa cao, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Lan Hoàng Thảo thuộc họ phong lan. Loại lan này có nguồn gốc từ Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, các vùng ôn đới và nhiệt đới Châu á.
Hoàng Thảo là họ nhà lan được sử dụng trong y học cổ truyền điều trị cơn khát, sốt, tiểu đường, nhiễm trùng, viêm, ung thư, bảo vệ thị lực và cải thiện khẩu vị, tiêu hóa, bất lực và có mặt trong một số loại thực phẩm chức năng nhằm tăng hiệu suất lao động. Chất chiết xuất từ lan Hoàng Thảo như dendrobine, dendroxine, dendramine. Trong số này, dendrobine có tác dụng dược lý bao gồm giảm đau hạ sốt. Ngoài các hiệu quả trên lan Hoàng Thảo còn là một loại hoa lan cảnh được mọi người chơi khá nhiều và có giá trị kinh tế cao.
1 Nước ta một trong những vùng đất được tạo hóa ban cho loài lan Hoàng Thảo này, nếu không có biện pháp bảo vệ kịp thời có thể lâm vào nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Một trong những biện pháp hữu hiệu để bảo tồn và phát triển loài lan quý hiếm này cần phải tiến hành nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro. Kỹ thuật nhân giống in vitro là phương pháp hiệu quả nhất hiện nay với các ưu điểm như tạo được cây con trẻ hóa và sạch bệnh nên tiềm năng sinh trưởng, phát triển và năng suất cao, khắc phục được nhược điểm của phương pháp nhân giống truyền thống, khôi phục lại các phẩm chất vốn có của thực vật. Đồng thời hệ số nhân của phương pháp nhân giống này cao đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng cây giống, đáp ứng nhu cầu sản xuất trên quy mô lớn.
Vì vậy tôi tiến hành đề tài: “Hoàn thiện quy trình nhân giống hoa lan Hoàng Thảo CF.03 (Dendrobium Swartz) bằng phương pháp nuôi cấy in vitro”. Mục đích Hoàn thiện quy trình nhân giống hoa lan Hoàng Thảo CF.03 (Dendrobium Swartz) nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng cây giống. Yêu cầu Xác định được công thức khử trùng bằng nano bạc và môi trường nền nuôi cấy tối ưu. Xác định được môi trường nhân nhanh tối ưu.
Xác định được môi trường ra rễ tối ưu. Xác định giá thể ra ngôi tối ưu. 2 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung về chi hoa lan hoàng thảo 2.
Nguồn gốc lịch sử Cây hoa lan được biết đến đầu tiên ở phương Đông, nói về hoa lan là phải nói đến người Trung Hoa, họ đã biết về lan vào khoảng 2500 năm về trước tức là ở thời đại của Đức Khổng Tử (551-479 trước công nguyên ). Ở phương Đông lan được chú ý đến vì vẻ đẹp duyên dáng của lá, hương thơm của hoa do đó Khổng Tử đề cao lan là vua của những loài cỏ cây có hương thơm. Theo các tác giả Trần Hợp (1990) , Nguyễn Tiến Bân (1997), Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến (1978), Nguyễn Văn Chương, Trịnh Văn Thịnh (1991), cây lan Orchida thuộc họ lan Orchidaceae, bộ lan Orchidales, lớp một lá mầm Monoctyledoneae, họ lan Orchidaceae ở trong lớp đơn tử diệp, thuộc ngành ngọc lan, thực vật hạt kín Magoliophyta, phân lớp hành Lilidae, có thể nói theo Pharastus (376-285 trước công nguyên) là cha đẻ ngành học và ông cũng là người đầu tiên dùng từ orchid để chỉ một loại lan có củ tròn, Người đạt nền tảng hiện đại cho môn học về lan là Joanlind (1979-1985), năm 1936 ông đã công bố sắp xếp các tông họ lan (A Tabuler view of the tribes of orchidaler) và tên của họ lan do ông đưa ra được dùng cho đến ngày nay 2. Vị trí phân bố Cây hoa lan mọc khắp mọi nơi trên thế giới từ miền gió tuyết đến sa mạc nóng bỏng khô cằn từ miền núi cao rừng thẳm đến đồng cỏ miền Bình Nguyên và ngay cả các vùng sình lầy cũng có lan, qua lịch sử biến đổi, cho đến ngày nay, người ta đã biết họ lan có một số lượng loài rất lớn khoảng 15.000 loài phân bố chủ yếu ở 680 vĩ Bắc đến 560 vĩ Nam (nằm gần cực Bắc như Thụy Điển, Alasksa) xuống đến các đảo cuối cùng của cực Nam ở Australia (tác giả, năm).
Tuy nhiên, phân bố chính của họ này là trên các vĩ độ nhiệt đới đặc biệt là châu Mỹ và Đông Nam Á. Đa số lan mọc tập trung ở các rừng nhiệt đới, ở các nước châu Á như Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam… như Phalaenopsis, 3 Vanda, Archinis… ở châu Mỹ như Costarica, Colombia, Venezuela… có các giống Cattleya, Odontoglosum… (tác giả, năm) Theo Briger (1971) vùng trung sinh Bắc bán cầu có 75 chi và 900 loài, Bắc Mỹ có 170 loài. Theo Peresley (1981) thì vùng Châu Á nhiệt đới có 250 chi và 6801 loài trong đó chi Dendrobium có 1400 loài, chi Coelogyne có 200 loài, chi Phalaenopsis có 35 loài. Vùng Châu Mỹ nhiệt đới có 306 chi và 8266 loài.
Trên thế giới có một số nước tập trung nhiều loài hoa như Colombia có 1300 loài, Tân Ghinê có 1450 loài (Phan Thúc Huân). Ở Việt Nam, dấu vết nghiên cứu về lan ban đầu không rõ rệt lắm, người đầu tiên có khảo sát về lan ở Việt Nam là Giolas Noureio – Nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, ông đã mô tả cây lan ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1789 trong cuốn “Flora cochin chinensis”, gọi tên các cây lan trong cuộc hành trình đến nam phần Việt Nam là Aerides, Phaius và Sarcopodium… đã được Netham và Hooker ghi lại trong cuốn “Genera Planterum” (1862 – 1883). Khảo sát sơ bộ ở Việt Nam, chi Dendrobium có khoảng 89 loài, Paphipoedium có 25 loài, Aerdes có 5 loài, chi Cymbidium có 20 loài, chi Phalaenopsis có 7 – 8 loài… 2. Phân loại chi lan Hoàng Thảo Chi lan Hoàng Thảo (Dendrobium) là chi lan lớn thứ 2 trong họ hoa lan đứng sau lan lọng.
Lan Hoàng Thảo rất phong phú và đa dạng với hơn 1600 loài, phân bố ở các vùng Châu Úc, Châu Á tập trung nhiều nhất ở Đông Nam Á. Lan Hoàng Thảo rất đa dạng về cấu tạo sinh học, hình thái và phong phú về dạng cây, dạng hoa. Vì vậy các nhà khoa học đã chia thành 40 nhóm nhỏ để tiện cho việc nghiên cứu và trồng trọt. Trong đó tiêu biểu nhất là các nhóm: Nhóm thứ nhất có đặc điểm là lá xanh quanh năm, hoa thường mọc ở gần ngọn có nhiều màu sắc sặc sỡ như: Dendrobium bigibbum, Dendrobium phalaenopsis… 4 Nhóm thứ hai có đặc điểm là các giả hành buông thõng xuống, mang nhiều lá xanh hai bên, hoa mọc thành từng chùm hoặc từng hoa như: Dendrobium anosmum, Dendrobium aphyllum… Nhóm thứ ba có đặc điểm là hoa mọc ở đỉnh, buông thõng xuống và có mùi thơm như: Dendrobium farmeri, Dendrobium chrysotoxum… Nhóm thứ tư có đặc điểm là chùm hoa mọc thẳng đứng, màu xanh hoặc màu vàng như: Dendrobium atroviolaceum, Dendrobium spetabile… Nhóm thứ năm có đặc điểm là giả hành mọc thẳng đứng có một lớp lông bao phủ như: Dendrobium draconis, Dendrobium formosum… Bên cạnh đó, có thể căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng và dạng thân, lan Dendrobium được chia thành 2 nhóm chính: Nhóm thân mềm: Có đặc điểm là các giả hành buông lõng hoặc rủ xuống, thường thấy ở vùng khí hậu lạnh, gồm các giống được lấy ở vùng cao nguyên Việt Nam, Miến Điện…, trên độ cao 1000 m.
Nhóm thân cứng: Mọc thẳng đứng thường ở vùng nóng hơn (Malaysia, Indonexia…). Ngoài ra còn một nhóm Dendrobium trung gian có thể sống ở cả vùng nóng lạnh như: Dendrobium primulimun, Dendrobium farmeri… Tác gả Trần Duy Dương (2015) 2. Các phương pháp nhân giống hoa lan 2. Phương pháp nhân giống hữu tính cây lan Hoàng Thảo Đây là phương pháp truyền thống.
Cây con mọc lên từ hạt do quá trình gieo phấn giữa cây bố và cây mẹ tạo thành. Vì vậy tính trạng của cây con hoàn toàn không thể xác định trước được Ưu điểm: - Nhân giống nhanh, số lượng nhiều - Hệ số nhân giống cao, có thể tạo giống mới từ phương pháp này khi lai tạo Nhược điểm: - Dễ lẫn giống, cây con không đồng đều, năng suất thấp 5 - Hạt hoa nhỏ, không hoàn chỉnh - Tỷ lệ nảy mầm thấp Phương pháp này được tiến hành bằng cách chọn những quả lan có kích thước to, tròn, không dị dạng, không sâu bệnh làm hạt giống. Tuy nhiên trong quy mô sản xuất thì phương pháp này khó thành công vì phần lớn hạt thường bị chết do không thể gặp được nấm cộng sinh để nảy mầm. Thông thường lan sẽ nảy mầm trong điều kiện ẩm ướt ở rừng nhiệt đới.
tác giả Bùi thị hền (2009) 2. Phương pháp nhân giống vô tính 2. Phương pháp tách nhánh (kei) Là phương pháp nhân giống hoa lan bằng cách sử dụng những chồi ( keiki ) hình thành từ những đốt ở vòi hoa hoặc trên thân. Những chồi con này có thể được cắt ra rồi trồng vào chậu hoặc để lại trên thân cây mẹ - chúng sẽ lớn lên theo chiều đứng và cũng mọc ra hoa như cây mẹ.