CHƯƠNG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG KIỂM TOÁN BCTC 1. Tổng quan về kiểm toán BCTC 1. Khái niệm kiểm toán BCTC Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về kiểm toán BCTC nhưng trong phạm vi đề tài, chỉ xin đưa ra khái niệm theo Luật kiểm toán độc lập 2011: “Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của BCTC của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán.” Giải thích các thuật ngữ trong định nghĩa: Kiểm toán viên hành nghề: là KTV đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán. Doanh nghiệp kiểm toán: là doanh nghiệp có đủ điều kiện để kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam: là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh tại Việt Nam. Trung thực: là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh trung thực, cần thiết và phù hợp về không gian, thời gian và sự kiện được nhiều người thừa nhận. Trọng yếu: là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin trong BCTC. Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hay thiếu chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCTC.
5 Mức độ trọng yếu tùy thuộc vào tầm quan trọng của thông tin hay sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Tính trọng yếu của thông tin phải xem xét cả tiêu chuẩn định lượng và định tính. Đối tượng kiểm toán BCTC Đối tượng trực tiếp của kiểm toán tài chính là bảng khai tài chính. Bộ phận quan trọng của những bảng khai này là BCTC.
Theo định nghĩa trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200: “Mục tiêu tổng thể của KTV và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam”: “Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị”. Có 02 cách để phân đối tượng kiểm toán thành các phần hành kiểm toán: “Phân theo khoản mục: là cách chia máy móc từng nhóm khoản mục hoặc nhóm các khoản mục trong các bảng khai vào một phần hành.” Ví dụ như: trong tài sản bao gồm các khoản mục: tiền và các khoản tương đương tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn và dài han, phải thu khách hàng ngắn hạn và dài hạn, … “Phân theo chu trình: là cách chia thông dụng hơn phân loại theo khoản mục căn cứ vào mối liên hệ chặt chẽ lẫn nhau giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành các yếu tố trong một chu trình chung của hoạt động tài chính.” Thông thường, các phần hành cơ bản trong kiểm toán tài chính gồm: - Kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền - Kiểm toán tiền mặt - Kiểm toán chu trình mua hàng và trả tiền - Kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên - Kiểm toán hàng tồn kho - Kiểm toán đầu tư và chi trả 6 - Kiểm toán tiếp nhận và hoàn trả vốn (Nguyễn Quang Quynh & Ngô Trí Tuệ, 2012) 1. Mục tiêu kiểm toán BCTC Theo Khoản 11, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200: “Mục tiêu tổng thể của KTV và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam”: “Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không.” Theo như định nghĩa trên, các khái niệm trung thực, hợp lý, hợp pháp được hiểu như sau: “Trung thực là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh đúng sự thật nội dung, bản chất và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.” “Hợp lý là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh trung thực, cần thiết và phù hợp về không gian, thời gian và sự kiện được nhiều người thừa nhận.” “Hợp pháp là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh đúng pháp luật, đúng chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận). Khái quát kiểm toán khoản mục lương và các khoản trích theo lương 1.
Khái quát về khoản mục lương Khái niệm quỹ lương: là tổng số tiền dùng để trả lương cho NLĐ, do cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp quản lý. Trong doanh nghiệp quỹ lương dùng để trả lương, các khoản như lương và một phần tiền thưởng cho NLĐ làm việc, phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh trong từng thời kỳ của doanh nghiệp. Căn cứ vào sự hình thành và sử dụng quỹ tiền lương, gồm có: 7 - Quỹ tiền lương kế hoạch: là tổng số tiền lương dự tính trong kế hoạch của một năm nào đó, thường được xác định vào đầu năm. Quỹ tiền lương kế hoạch của NLĐ được xác định dựa trên số lao động bình quân kế hoạch và mức tiền lương bình quân kế hoạch.25, Khoản 2 Điều 6, Thông tư 78/2014/TT- BTC).
(Trích nguồn: http://voer.vn/m/quy-che-tra-luong/30a824d9) Khái niệm tiền lương: “Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định.” (Theo Điều 91 Bộ luật lao động) Khái niệm tiền thưởng: “Tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động.” (Theo Điều 103, Bộ luật lao động) Khái niệm mức lương tối thiểu: “Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc đơn giản nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.” (Theo Điều 91, Bộ luật lao động) Lương tối thiểu được phân làm 02 loại như sau: - Khái niệm lương cơ sở (lương tối thiểu chung): “lương cơ sở là mức lương làm căn cứ tính đóng, hưởng BHXH (bảo hiểm xã hội), BHYT (bảo hiêm y tế), BHTN (bảo hiểm thất nghiệp) cho cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang…” (Theo Nghị quyết 99/2015/QH13) - Khái niệm lương tối thiểu vùng: “là mức lương thấp nhất làm cơ sở để doanh 8 nghiệp và NLĐ thỏa thuận và trả lương.” (Theo Nghị định 153/2016/NĐ-CP) Khái niệm lương cơ bản: là mức lương do người sử dụng lao động thỏa thuận với NLĐ được ghi cụ thể trên hợp đồng lao động, là cơ sở để tính tiền công, tiền lương thực lĩnh của NLĐ trong chính doanh nghiệp đó. Trước năm 2015, lương cơ bản dùng để phản ánh khoản lương để đóng bảo hiểm, không tính các khoản phụ cấp, trợ cấp khác.
Nhưng từ 01/01/2016 (Theo quyết định 959/QĐ – BHXH) thì tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương và phụ cấp lương theo quy định của pháp luật lao động. Đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, hưởng lương theo ngân sách Nhà nước: lương cơ bản bằng với mức lương cơ sở. Khái niệm phụ cấp lương: “là các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ như phụ cấp chức vụ, chức danh; phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thâm niên; phụ cấp khu vực; phụ cấp lưu động; phụ cấp thu hút và các phụ cấp có tính chất tương tự.” (Theo Thông tư 59/2015/TT- BLĐTBXH) Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật lao động, có 03 hình thức trả lương: trả lương theo thời gian, lương theo sản phẩm và lương khoán. - Tiền lương theo thời gian: là khoản tiền trả cho NLĐ theo thời gian làm việc của họ (ngày, tháng, quý hoặc năm).
Lương thời gian không phụ thuộc vào khối lượng công việc (sản phẩm) mà NLĐ hoàn thành trong khoảng thời gian đó. - Tiền lương theo sản phẩm: là tiền lương được tính toán dựa trên số lượng, chất lượng sản phẩm, công việc hay lao vụ đã hoàn thành. Để tính lương theo sản phẩm, cần xây dựng định mức hợp lý làm cơ sở xác định đơn giá tiền lương đối với từng loại sản phẩm, công việc. - Tiền lương khoán: là hình thức trả lương khi NLĐ hoàn thành một khối lượng công việc theo đúng chất lượng được giao.
9 Công thức tính lương và các khoản phụ cấp: Hình thức trả lương theo thời gian: Hình thức 1: Phụ cấp Lương tháng = Lương hiện hưởng + số ngày làm việc thực tế Số ngày công chuẩn của tháng Hình thức 2: Phụ cấp Lương tháng = Lương hiện hưởng + số ngày làm việc thực tế 26 Đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội kể từ ngày 01/07/2017 khi Nghị định 47/2017/TT-BNV ngày 12/05/2017 có hiệu lực thi hành thì mức lương cơ bản được tính là 1.000 đồng/tháng.