Chương 1: Tổng quan. Chương 2: Cơ sở lý luận về kiểm toán các ƯTKT trong kiểm toán BCTC. Chương 3: Sơ lược về công ty và quy trình kiểm toán các ƯTKT tại công ty TNHH Kiểm toán Immanuel. Chương 4: Giải pháp và kết luận.
SVTH: Trần Thị Đoan Trâm 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ngô Ngọc Linh CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN CÁC ƯỚC TÍNH KẾ TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BCTC .1 TỔNG QUAN VỀ CÁC ƯỚC TÍNH KẾ TOÁN 2.1 Khái niệm về các ước tính kế toán Ước tính kế toán (ƯTKT): Là một giá trị gần đúng của một chỉ tiêu liên quan đến báo cáo tài chính được ước tính trong trường hợp thực tế đã phát sinh nhưng chưa có số liệu chính xác hoặc chưa có phương pháp tính toán chính xác hơn, hoặc một chỉ tiêu thực tế chưa phát sinh nhưng đã được ước tính để lập BCTC.1 Ước tính các chỉ tiêu đã phát sinh • Dự phòng nợ phải thu khó đòi • Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn • Dự phòng giảm giá hàng tồn kho • Trích khấu hao tài sản cố định • Chi phí trả trước • Giá trị sản phẩm dở dang • Doanh thu ghi nhận trước • Doanh thu hợp đồng xây dựng dở dang 2.2 Ước tính chỉ tiêu chưa phát sinh • Dự phòng chi phí bảo hành • Chi phí trả trước • Ước tính giá trị lợi thế thương mại, bất lợi thương mại … 2.3 Tính chất của các ƯTKT Việc lập một ƯTKT có thể đơn giản hoặc phức tạp tùy theo tính chất của các chỉ tiêu. Ví dụ như ước tính và phân bổ chi phí khấu hao, đơn giản hơn là ước tính dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Riêng đối với các ước tính phức tạp, đòi hỏi cần phải có nhiều kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn, và khả năng xét đoán cao. SVTH: Trần Thị Đoan Trâm 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ngô Ngọc Linh Các ƯTKT có thể được thực hiện một cách thường xuyên trong kỳ kế toán hoặc có thể được thực hiện vào cuối kỳ kế toán.
Trong nhiều trường hợp, các ƯTKT được lập trên cơ sở kinh nghiệm thực tế. Chẳng hạn như, sử dụng tỷ lệ định mức trên doanh thu bán hàng để ước tinh chi phí bảo hành. Trường hợp này, đơn vị phải thường xuyên soát xét lại các dữ liệu và so sánh kết quả thực tế với số liệu đã ước tính để điều chỉnh ước tính cho các kỳ sau. Trường hợp do chủ quan, do thiếu các dữ liệu khách quan hoặc do mức độ không chắc chắn của một yếu tố nào đó nên các ƯTKT đã không thể lập được một cách hợp lý thì KTV phải cân nhắc khi đưa ra ý kiến trên báo cáo kiểm toán theo đúng quy định tại Chuẩn mực số 700 “Báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính”.4 Phân tích nội dung cơ bản, phương pháp ghi nhận, hoạch toán các ước tính kế toán được nghiên cứu trong đề tài 2.1 Chi phí phải trả Theo Chế độ Kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ- BTC, được bổ sung theo quy định tại Thông tư 244/2009/TT-BTC ► Nội dung cơ bản : Tài khoản này dùng để hoạch toán những khoản chi phí thực tế chưa phát sinh nhưng được tính trước vào chi phí sản xuất, kinh doanh kỳ này cho các đối tượng chịu chi phí để đảm bảo khi các khoản chi trả phát sinh thực tế không gây đột biến cho chi phí sản xuất, kinh doanh.
Việc hoạch toán các khoản chi phí phải trả vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ phải thực hiên theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí phát sinh trong kỳ. ► Một số quy định : • Chỉ được hoạch toán vào tài khoản này những nội dung chi phí phải trả theo quy định. • Việc trả trước và hoạch toán những chi phí chưa phát sinh vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ phải được tính toán chặt chẽ, phải có bằng chứng hợp lý, tin cậy. • Về nguyên tắc, cuối kỳ kế toán năm, các khoản chi phí phải trả phải được quyết toán với số chi phí thực tế phát sinh.
Số chênh lệch giữa số trả trước và chi phí thực tế phải xử lý theo chính sách tài chính hiện hành.2 Chi phí trả trước Theo Chế độ Kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ- BTC, được bổ sung theo quy định tại Thông tư 244/2009/TT-BTC SVTH: Trần Thị Đoan Trâm 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ngô Ngọc Linh ► Nội dung cơ bản : Chi phí trả trước ngắn hạn là những khoản thực tế đã phát sinh, nhưng có liên quan tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều kỳ kế toán trong một năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh, nên chưa thể tính hết vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ phát sinh mà được tính vào hai hay nhiều kỳ kế toán tiếp theo. Chi phí trả trước dài hạn dùng để phản ánh các chi phí thực tế đã phát sinh, nhưng có liên quan đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều niên độ kế toán. ► Một số quy định : • Chỉ được hoạch toán vào tài khoản này những nội dung chi phí phải trả theo quy định • Chỉ hoạch toán vào tài khoản này những khoản chi phí trả trước phát sinh có giá trị lớn liên quan đến kết quả hoạt động king doanh của nhiều kỳ trong một năm tài chính hay nhiếu năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh do không thể tính hết cho kỳ phát sinh chi phí. • Việc tính và phân bổ chi phí trả trước vào chi phí sản xuất kinh doanh hạch toán phải căn cứ vào tính chất, mức độ từng loại chi phí mà lựa chọn phương pháp và tiêu thức phù hợp, kế hoạch chặt chẽ.
• Đối với chi phí sửa chửa TSCĐ nếu phát sinh một lần quá lớn thì được phân bổ dần vào các kỳ kế toán tiếp theo trong vòng một năm tài chính. Đối với những TSCĐ đặc thù, việc sửa chửa lớn có tính chu kỳ, DN có thể trả trước chi phí sửa chửa lớn vào chi phí sản xuâts kinh doanh trong kỳ.3 Chi phí khấu hao TSCĐ Theo VAS 03-04 và Thông tư 203/2009/TT-BTC ► Nội dung cơ bản : Chi phí khấu hao được xem là một loại chi phí ước tính nhằm phản ánh sự hao mòn của TSCĐ. Hao mòn TSCĐ là sự giảm dần giá trị sử dụng và giá trị của tài sản do tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do sự hao mòn của thiên nhiên, do tiến bộ kĩ thuật. trong quá trình hoạt động của TSCĐ.
► Một số quy định: Theo VAS 03-04 • Khấu hao là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong thời gian sử dụng TSCĐ. Chi phí khấu hao là một khoản ước tính kế toán. Mức khấu hao phụ thuộc vào ba yếu tố : Nguyên giá, giá trị thanh lý ước tính và thời gian sử dụng hữu ích. Trong đó, nguyên giá là một yếu tố khách quan, còn giá trị thanh lý ước tính và thời gian sử dụng hữu ích thì căn cứ theo SVTH: Trần Thị Đoan Trâm 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ngô Ngọc Linh yếu tố chủ quan của đơn vị.
Ngoài ra, chi phí khấu hao còn phụ thuộc vào phương pháp trích khấu hao được sử dụng. • Căn cứ vào chính sách tài chính và chuẩn mực kế toán hiện hành, căn cứ vào yêu cầu quản lý của doanh nghiệp để lựa chọn 1 trong 3 phương pháp tính, trích khấu hao phù hợp với tình hình chung của DN. Phương pháp khấu hao được áp dụng cho từng TSCĐ phải được thực hiện nhất quán và có thể được thay đổi khi có sự thay đổi đáng kể cách thức thu hồi lợi ích kinh tế của TSCĐ. Theo thông tư 203/2009TT-BTC • Mọi TSCĐ hiện có của doanh nghiệp có liên quan đến sản xuất, kinh doanh (gồm cả tài sản chưa dùng, không cần dùng, chờ thanh lý) đều phải trích khấu hao theo quy định hiện hành.
Ví dụ như: Khấu hao TSCĐ dùng trong sản xuất, kinh doanh phải hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ. Các trường hợp đặc biệt không phải trích khấu hao (như TSCĐ dự trữ, TSCĐ dùng chung cho xã hội.), doanh nghiệp phải thực hiện theo chính sách tài chính hiện hành. Đối với TSCĐ dùng cho hoạt động sự nghiệp, dự án hoặc dùng vào mục đích phúc lợi thì không phải trích khấu hao tính vào chi phí mà chỉ tính hao mòn TSCĐ. • Thời gian khấu hao và phương pháp khấu hao TSCĐ phải được xem xét lại ít nhất là vào cuối mỗi năm tài chính.
Nếu thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản khác biệt lớn so với các ước tính trước đó thì thời gian khấu hao phải được thay đổi tương ứng. • Đối với các TSCĐ đã khấu hao hết (đã thu hồi đủ vốn), nhưng vẫn còn sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh thì không được tiếp tục trích khấu hao. Các TSCĐ chưa tính đủ khấu hao (chưa thu hồi đủ vốn) mà đã hư hỏng, cần thanh lý, thì phải xác định nguyên nhân, trách nhiệm để xử lý bồi thường. Nếu số thu thanh lý và số thu bồi thường không đủ bù đắp phần giá trị còn lại của TSCĐ chưa thu hồi, hoặc giá trị TSCĐ bị mất thì chênh lệch còn lại được coi là lỗ về thanh lý TSCĐ.
Riêng doanh nghiệp Nhà nước được xử lý theo chính sách tài chính hiện hành của Nhà nước. • Đối với TSCĐ vô hình, phải tuỳ thời gian phát huy hiệu quả để trích khấu hao tính từ khi TSCĐ vô hình được đưa vào sử dụng (Theo hợp đồng, cam kết hoặc theo quyết định của cấp có thẩm quyền). Riêng đối với TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất thì chỉ trích khấu hao đối với quyền sử dụng đất xác định được thời hạn sử dụng. Nếu không xác định được thời gian sử dụng thì không trích khấu hao.
SVTH: Trần Thị Đoan Trâm 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ngô Ngọc Linh 2.4 Dự phòng phải thu khó đòi Theo VAS 18 và Thông tư 228/2009/TT-BTC ► Nội dung cơ bản: Dự phòng phải thu khó đòi là dự phòng khoản phải thu dự kiến bị tổn thất của các khoản phải thu khó đòi, hoặc không thể đòi được do con nợ mất khả năng trả nợ trong năm tài chính. ► Một số quy định: Theo VAS 18 • Khi xác định khoản phải thu là không chắc chắn thu được (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu. Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi.