CHƯƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC KHOẢN PHẢI THU VÀ KIỂM TOÁN CÁC KHOẢN PHẢI THU 1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI CÁC KHOẢN PHẢI THU: 1.1 Khái niệm các khoản phải thu: Một bộ phận vốn lưu động quan trọng của các doanh nghiệp đó chính là các khoản phải thu. Các khoản phải thu vận động không ngừng, phức tạp và có tính lưu chuyển rất cao. Vấn đề đặt ra là quản lý các khoản phải thu. Chỉ khi quản lý chặt chẽ thì doanh nghiệp mới sử dụng vốn lưu động một cách hiệu quả, bảo vệ chặt chẽ tài sản, ngăn ngừa được các hiện tượng lãng phí và tham ô tài sản.
Chính vì vậy, vấn đề quản lý các khoản phải thu luôn là bài toán không hề đơn giản đối với các doanh nghiệp. Vậy trước tiên, cần phải hiểu khái niệm về các khoản phải thu. Các khoản phải thu là khoản nợ của các cá nhân, các tổ chức đơn vị bên trong và bên ngoài doanh nghiệp về số tiền mua sản phẩm, hàng hóa, vật tư và các khoản dịch vụ khác chưa thanh toán cho doanh nghiệp. Nguyễn Ngọc Linh – K3N – Khoa Quốc tế - ĐHQGHN 15 Báo cáo khóa luận tốt nghiệp (*) Trích dẫn : Mục 2.4 Tr52 Giáo trình Kế toán tài chính NXB Học viện tài chính.
Theo khái niệm này, cần thiết phải quan tâm đến yếu tố sau khi nhắc đến khoản phải thu: - Đối tượng của khoản phải thu : Cá nhân, tổ chức đơn vị bên trong đơn vị, bên ngoài doanh nghiệp. Cá nhân, tổ chức đơn vị bên trong đơn vị là nhân viên, cán bộ thuộc đơn vị trực thuộc, công ty con, chi nhánh. Cá nhân, tổ chức bên ngoài đơn vị là người bán hàng, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, bán vật tư hàng hóa. - Nội dung của khoản phải thu: Số tiền còn phải thu do mua sản phẩm, hàng hóa, vật tư và dịch vụ.2 Phân loại các khoản phải thu: Việc phân loại các khoản phải thu là một yêu cầu trong kế toán các khoản phải thu.
Đồng thời, việc phân loại này rất quan trọng đối với việc hạch toán kế toán, và cả đối với kế toán quản trị: Lãnh đạo của doanh nghiệp có thể sử dụng kết quả việc phân loại, để nắm được tình hình các loại đối tượng nợ, khoản nợ, ngắn hạn hay dài hạn, từ đó lãnh đạo của doanh SV. Nguyễn Ngọc Linh – K3N – Khoa Quốc tế - ĐHQGHN 16 Báo cáo khóa luận tốt nghiệp nghiệp mới có thể đưa ra những quyết định kinh doanh phù hợp. Đối với hoạt động kiểm toán, việc phân loại khoản phải thu là một thủ tục mà kiểm toán viên cần phải kiểm tra và xem xét. Như vậy, các khoản phải thu cần thiết phải được phân loại.
Thông thường, có hai cách phân loại sau: Phân loại theo đối tượng và phân loại theo thời gian.1 Phân loại khoản phải thu theo đối tượng: Các khoản phải thu theo tiêu chí này được chia thành các loại như sau: Phải thu của khách hàng: - Là khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiền bán sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tư, TSCĐ, cung cấp dịch vụ. - Đối tượng phải thu là các khách hàng có quan hệ kinh tế với doanh nghiệp về mua sản phẩm, hàng hóa, nhận cung cấp dịch vụ, kể cả TSCĐ, bất động sản đầu tư. Phải thu nội bộ: - Là các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với đơn vị cấp trên, giữa các đơn vị trực thuộc, hoặc các đơn vị phụ thuộc trong một doanh nghiệp độc lập, các doanh nghiệp độc lập trong SV. Nguyễn Ngọc Linh – K3N – Khoa Quốc tế - ĐHQGHN 17 Báo cáo khóa luận tốt nghiệp Tổng công ty về các khoản vay mượn, chi hộ, trả hộ, thu hộ, hoặc các khoản mà doanh nghiệp cấp dưới có nghĩa vụ nộp lên đơn vị cấp trên hoặc cấp trên phải cấp cho cấp dưới.
- Đối tượng phải thu là đơn vị cấp trên, hoặc đơn vị cấp dưới trong quan hệ thanh toán nội bộ. Phải thu khác: - Là khoản phải thu ngoài phạm vi các khoản phải thu khách hàng, thu nội bộ. Các khoản thu khác bao gồm: • Giá trị tài sản thiếu đã được phát hiện nhưng chưa xác định được nguyên nhân, phải chờ xử lý; • Các khoản phải thu về bồi thường vật chất do cá nhân, tập thể (trong và ngoài đơn vị) gây ra như mất mát, hư hỏng vật tư, hàng hóa, tiền vốn,. đã được xử lý bắt bồi thường; • Khoản cho vay, cho mượn vật tư, tiền vốn có tính chất tạm thời không lấy lãi; • Các khoản đã chi cho hoạt động sự nghiệp, chi dự án, chi đầu tư XDCB, chi phí sản xuất, kinh doanh nhưng không được cấp có thẩm quyền phê duyệt phải thu hồi; SV.
Nguyễn Ngọc Linh – K3N – Khoa Quốc tế - ĐHQGHN 18 Báo cáo khóa luận tốt nghiệp • Các khoản đơn vị nhận uỷ thác xuất khẩu chi hộ cho đơn vị uỷ thác xuất khẩu về phí ngân hàng, phí giám định hải quan, phí vận chuyển, bốc vác, • Tiền lãi, cổ tức, lợi nhuận phải thu từ các hoạt động đầu tư tài chính; • Các khoản phải thu phát sinh khi cổ phần hóa công ty nhà nước, như: Chi phí cổ phần hoá, trợ cấp cho lao động thôi việc, mất việc, hỗ trợ đào tạo lại lao động trong doanh nghiệp cổ phần hoá,. • Các khoản phải thu khác ngoài các khoản trên.2 Phân loại khoản phải thu theo thời gian: Các khoản phải thu theo tiêu chí này được chia thành các loại như sau: Các khoản phải thu ngắn hạn: - Là các khoản phải thu khách hàng, khoản trả trước cho người bán, phải thu nội bộ, phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng, và các khoản phải thu khác tại thời điểm báo cáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới 1 năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (sau khi trừ đi dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi). Nguyễn Ngọc Linh – K3N – Khoa Quốc tế - ĐHQGHN 19 Báo cáo khóa luận tốt nghiệp Các khoản phải thu dài hạn: - Là các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn, các khoản phải thu dài hạn khác và số vốn kinh doanh đã giao cho các đơn vị trực thuộc, tại thời điểm báo cáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên 1 năm hoặc trên một chu kỳ kinh doanh (sau khi trừ đi dự phòng phải thu dài hạn khó đòi). Thông thường, cả hai cách phân loại khoản phải thu trên cùng được áp dụng một lúc.
Doanh nghiệp phân loại chi tiết thành : Các khoản phải thu khách hàng ngắn hạn, các khoản phải thu dài hạn; các khoản phải thu nội bộ ngắn hạn, phải thu nội bộ dài hạn; phải thu khác ngắn hạn, phải thu khác dài hạn. Phải thu của kháchhàng Phân loại theo đối tượng Phải thu nội bộ Khoản mục Phải thu khác phải thu Phải thu ngắn hạn Phân loại theo SV. Nguyễn Ngọc Linh – K3N – Khoa Quốc tế - ĐHQGHN 20 Phải thu dài hạn thời gian Báo cáo khóa luận tốt nghiệp Sơ đồ 1: Phân loại các khoản phải thu Có thể nói, dù phân loại như thế nào, và doanh nghiệp áp dụng ra sao, thì việc phân loại cụ thể các khoản phải thu vẫn có ý nghĩa to lớn đối với nhà quản lý trong việc kiểm tra, soát xét, thu hồi vốn lưu động, và đưa ra quyết định phù hợp.2 KẾ TOÁN CÁC KHOẢN PHẢI THU: Các quy định pháp luật về kế toán doanh nghiệp được Nhà nước ban hành cụ thể và chi tiết. Nhiệm vụ của kế toán viên là nắm chắc những quy định này để khi tiến hành làm kế toán hạch toán không vi phạm các quy định trên.
Riêng đối với kiểm toán viên, hiểu và nắm chắc các quy định chế độ kế toán cũng là một yêu cầu bắt buộc. Có như vậy, kiểm toán viên mới có thể tiến hành soát xét, kiểm tra một cách kỹ lưỡng, và đưa ra những ý kiến trung thực khách SV. Nguyễn Ngọc Linh – K3N – Khoa Quốc tế - ĐHQGHN 21 Báo cáo khóa luận tốt nghiệp quan. Ở nước ta, về chế độ kế toán, có hai quyết định được áp dụng, và trong hai quyết định đó, cũng có những quy định chi tiết về các khoản phải thu.
Quyết định số 15/2006/QĐ – BTC Quyết định số 48/2006/QĐ – BTC Theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC – chế Trong trường hợp doanh nghiệp thuộc diện độ kế toán doanh nghiệp, ban hành ngày doanh nghiệp nhỏ và vừa, thì doanh nghiệp 20/03/2006 có quy định rõ về tài khoản các cần áp dụng chế độ kế toán theo quyết định khoản phải thu như sau: số 48/2006/QĐ-BTC ban hành ngày Tài khoàn 131 – Phải thu của khách hàng; 14/09/2006. Tài khoản sử dụng theo quyết Tài khoản 136 – Phải thu nội bộ; định số 48/2006/QĐ-BTC như sau: Tài khoản 138 – Phải thu khác; Tài khoản 131: Phải thu của khách hàng Tài khoản 139 – Dự phòng phải thu khó đòi. Tài khoản 138: Phải thu khác Tài khoản 1592: Dự phòng phải thu khó đòi Theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC, doanh nghiệp không sử dụng tài khoản phải thu nội bộ, và có sự thay đổi trong sử dụng tài khoản dự phòng phải thu khó đòi. Đồng thời, từ sự khác biệt trên dẫn đến cách lập Bảng cân đối kế toán đối với các khoản phải thu, theo từng SV.
Nguyễn Ngọc Linh – K3N – Khoa Quốc tế - ĐHQGHN 22 Báo cáo khóa luận tốt nghiệp quyết định cũng có những điểm khác biệt. Đây cũng là những điều mà kiểm toán viên cần chú ý khi kiểm toán các khoản phải thu đối với từng doanh nghiệp khác nhau, áp dụng từng chế độ kế toán doanh nghiệp khác nhau.3 VẤN ĐỀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG CÁC KHOẢN PHẢI THU: Kinh tế suy thoái không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh mà còn làm gia tăng nợ khó đòi trong doanh nghiệp. Thống kê mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, chỉ riêng nợ khó đòi trong hệ thống ngân hàng năm 2008 đã vào khoảng 43. Nếu tính cả số nợ giữa các doanh nghiệp với nhau thì con số nợ khó đòi còn lớn hơn nhiều lần.
Vì thế, dự báo tình hình về kinh tế sẽ tiếp tục khó khăn thì nợ khó đòi sẽ trở thành mối lo hàng đầu đối với doanh nghiệp. Nợ khó đòi có thể đẩy doanh nghiệp đến chỗ phá sản, ngân hàng mất tài sản và quan trọng hơn là nợ khó đòi gây ra xáo trộn trong nền kinh tế. Vậy, xử lý nợ khó đòi như thế nào là bài toán không dễ, nhất là trong bối cảnh kinh tế khó khăn và có nhiều biến động. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, doanh nghiệp có thể khắc phục tình trạng nợ khó đòi nếu thực hiện SV.