CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BCTC 1. KHÁI QUÁT VỀ LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Khái niệm về lập kế hoạch kiểm toán Theo chuẩn mực kiểm toán Quốc tế ISA 300, “lập kế hoạch có nghĩa là việc phát triển một chiến lược tổng thể và một phương pháp tiếp cận với chi tiết tính chất thời gian dự tính và nội dung của một cuộc kiểm toán. Mục tiêu của việc lập kế hoạch là để có thể thực hiện cuộc kiểm toán một cách có hiệu quả và theo đúng thời gian dự kiến”.
Bên cạnh đó, theo giáo trình Lý thuyết kiểm toán của trường Đại học Kinh tế quốc dân, “lập kế hoạch kiểm toán là quá trình cân đối tích cực giữa nhu cầu và nguồn lực đã có. Việc xác định nhu cầu được thực hiện chủ yếu qua việc cụ thể hóa mục tiêu và phạm vi kiểm toán đã dự kiến. Việc cụ thể hóa này trước hết ở việc xác định những công việc cụ thể phải làm và trên cơ sở đó lượng hóa quy mô từng việc và xác định thời gian kiểm toán tương ứng. Để thực hiện cả hai quy trình đó, cần thiết không chỉ cụ thể hóa và chính xác hóa mục tiêu và phạm vi kiểm toán mà còn cần thiết xác định các nguồn thông tin có thể có” [14].
Mặc dù bề ngoài các quan điểm trên có vẻ khác nhau, nhưng về bản chất các quan điểm đều cho rằng lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các kiểm toán viên cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như những điều kiện cần thiết khác cho kiểm toán. Kế hoạch kiểm toán phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng yếu của cuộc kiểm toán; phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm ẩn; và đảm bảo cuộc kiểm toán được hoàn thành đúng thời hạn. Phạm vi kế hoạch kiểm toán sẽ thay đổi tùy theo quy mô Luan van 8 khách hàng, tính chất phức tạp của công việc kiểm toán, kinh nghiệm và những hiểu biết của kiểm toán viên về đơn vị và hoạt động của đơn vị được kiểm toán. Khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải hiểu biết về hoạt động của đơn vị được kiểm toán để nhận biết được các sự kiện, nghiệp vụ có thể ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính.
Để lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên có quyền thảo luận với kiểm toán viên nội bộ, Giám đốc và các nhân viên của đơn vị được kiểm toán về những vấn đề liên quan đến kế hoạch kiểm toán và thủ tục kiểm toán nhằm nâng cao hiệu quả công việc kiểm toán và phối hợp công việc với các nhân viên của đơn vị được kiểm toán. Khái quát về quy trình kiểm toán và vị trí của khâu lập kế hoạch trong quy trình kiểm toán Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toán cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ cho kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên báo cáo tài chính, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn như sau: Lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán, hoàn thành cuộc kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán, được thể hiện trong sơ đồ 1. Trong đó, lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán là bước công việc đầu tiên của tổ chức công tác kiểm toán nhằm tạo ra tất cả tiền đề và điều kiện cụ thể trước khi thực hành kiểm toán. Sau khi đã hình thành được phương pháp kiểm toán cụ thể, kiểm toán viên sẽ tiến hành thực hiện kế hoạch kiểm toán.
Đây là quá trình thực hiện đồng bộ các công việc đã ấn định trong kế hoạch, chương trình kiểm toán. Trong quá trình thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên phải tuyệt đối tuân thủ chương trình kiểm toán đã được xây dựng để tiến tới hoàn thành kiểm toán, đưa ra kết luận kiểm toán và báo cáo Luan van 9 hoặc biên bản kiểm toán. Đó là sự khái quát về kết quả thực hiện các chức năng kiểm toán trong từng cuộc kiểm toán cụ thể. Giai đoạn I Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán Giai đoạn II Thực hiện kế hoạch kiểm toán Giai đoạn III Hoàn thành kiểm toán và công bố Báo cáo kiểm toán Sơ đồ 1.1: Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính (Nguồn: Nguyễn Quang Quynh, (2006), Giáo trình kiểm toán tài chính,NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, tr.) Qua đây ta có thể thấy, ba giai đoạn trong một quy trình kiểm toán có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Chất lượng thực hiện giai đoạn trước có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng thực hiện công việc giai đoạn sau. Trong đó, lập kế hoạch là giai đoạn đầu tiên của cuộc kiểm toán, do đó nó có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng hiệu quả công việc hai giai đoạn tiếp theo cũng như quyết định chất lượng của toàn bộ cuộc kiểm toán. Ý nghĩa của giai đoạn này được thể hiện qua một số điểm sau: - Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên thu thập được các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm cơ sở để đưa ra các ý kiến xác đáng về các báo cáo tài chính, từ đó giúp các kiểm toán viên hạn chế những sai sót, giảm thiểu trách nhiệm pháp lý, nâng cao hiệu quả công việc và giữ vững được uy tín nghề nghiệp đối với khách hàng. - Kế hoạch kiểm toán giúp các kiểm toán viên phối hợp hiệu quả với Luan van 10 nhau cũng như phối hợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan như kiểm toán nội bộ, các chuyên gia bên ngoài… Đồng thời qua sự phối hợp hiệu quả đó, kiểm toán viên có thể tiến hành cuộc kiểm toán theo đúng chương trình đã lập với các chi phí ở mức hợp lý, tăng cường sức mạnh cạnh tranh cho công ty kiểm toán và giữ uy tín với khách hàng trong mối quan hệ làm ăn lâu dài.
- Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để công ty kiểm toán tránh xảy ra những bất đồng đối với khách hàng. Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán đã lập, kiểm toán viên thống nhất với các khách hàng về nội dung công việc sẽ thực hiện, thời gian tiến hành kiểm toán cũng như là trách nhiệm của mỗi bên… Điều này tránh xảy ra những hiểu lầm đáng tiếc giữa hai bên. - Kế hoạch kiểm toán đưa ra các kế hoạch, chương trình kiểm toán cụ thể, các bước thực hiện, và nội dung thực hiện được các bước đó. Nên từ bản kế hoạch kiểm toán công ty kiểm toán sẽ tính toán được chi phí hợp lý của cuộc kiểm toán từ đó có thể đưa ra mức phí kiểm toán mà khách hàng phải trả đảm bảo có lợi nhuận cho mình nhưng phù hợp với các chi phí đã bỏ ra.
Đây là một điểm rất quan trọng trong việc ký kết các hợp đồng kiểm toán. - Ngoài ra, căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập, kiểm toán viên có thể kiểm soát và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán đã và đang thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán, từ đó càng thắt chặt hơn mối quan hệ giữa công ty kiểm toán với khách hàng. Chính từ vai trò quan trọng ấy, kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính của cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bị những điều kiện cơ bản trong công tác kiểm toán, cho cuộc kiểm toán mà còn là nguyên tắc cơ bản trong công tác kiểm toán đã được quy định thành chuẩn mực và đòi hỏi các kiểm toán viên phải tuân theo đầy đủ nhằm đảm bảo tiến hành công tác kiểm toán có hiệu quả và chất lượng. NỘI DUNG LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.
Chuẩn bị kiểm toán Quy trình kiểm toán bắt đầu khi kiểm toán viên và công ty kiểm toán thu nhận một khách hàng. Thu nhận khách hàng là một quá trình gồm hai bước: thứ nhất, phải có sự liên lạc giữa kiểm toán viên với khách hàng tiềm năng mà khách hàng này yêu cầu được kiểm toán và khi có yêu cầu kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá liệu có chấp nhận yêu cầu đó hay không. Còn đối với khách hàng hiện tại, kiểm toán viên phải quyết định liệu có tiếp tục kiểm toán hay không? Trên cơ sở đã xác định được đối tượng khách hàng có thể phục vụ trong tương lai, công ty kiểm toán sẽ tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán bao gồm: đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện lý do kiểm toán, lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán và đạt được một hợp đồng kiểm toán. Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán Hệ thống kiểm soát chất lượng yêu cầu kiểm toán viên và công ty kiểm toán xây dựng hệ thống chính sách và thủ tục để quyết định chấp nhận khách hàng mới hoặc tiếp tục khách hàng cũ.
Các chính sách, thủ tục đó phải đảm bảo rằng khả năng chấp nhận khách hàng có ban quản lý thiếu liêm chính ở mức thấp nhất [6]. Nếu kiểm toán viên đồng ý chấp nhận khách hàng thiếu liêm chính thì các thông tin trên báo cáo tài chính có thể bị trình bày gian dối một cách tinh vi theo hệ thống, kiểm toán viên khó phát hiện các gian lận đang tồn tại, và cũng có thể dẫn tới vụ kiện bởi những người sử dụng thông tin trong Báo cáo tài chính đã được kiểm toán. Để đưa ra quyết định chấp nhận hay duy trì một khách hàng thì KTV phải xem xét tính độc lập, khả năng phục vụ tốt khách hàng và tính liêm chính của ban quản trị doanh nghiệp. Trong giai đoạn này, tính liêm chính của ban Luan van 12 giám đốc khách hàng là nhân tố quan trọng hơn cả bởi vì kiểm toán viên luôn mong muốn sự trao đổi trung thực với ban giám đốc về kế hoạch hoạt động, về các ước tính kế toán, về những nội dung liên quan đến pháp luật và những vấn đề khác liên quan đến việc kiểm toán.
Một ban giám đốc thiếu tính liêm chính thì kiểm toán viên sẽ phải đối diện với rủi ro cao hơn và tốn kém nhiều chi phí hơn cho việc thu thập bằng chứng kiểm toán để đưa ra kết luận kiểm toán.