Đặt vấn đề Chăn nuôi có vị trí quan trọng, là ngành kinh tế sản xuất chính của nông nghiệp nước ta. Nhưng ngành chăn nuôi và chăn nuôi lợn hiện nay còn gặp nhiều thách thức, ảnh hưởng không nhỏ đến người chăn nuôi và sự phát triển bền vững. Từ năm 2019 đến nay, bệnh dịch tả lợn châu Phi còn diễn biến phức tạp, là nguyên nhân chính làm giảm nguồn cung đàn lợn chăn nuôi nước ta. Nhiều địa phương còn tâm lý e ngại dịch bệnh tái phát, thiếu nguồn lực trong phát triển và tái đàn.
Bên cạnh đó, giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu tăng cao làm giá thức ăn chăn nuôi hỗn hợp tăng. Thức ăn chăn nuôi hỗn hợp ở nước ta cao hơn một số nước trong khu vực có lúc trên 10%. Chi phí phòng, chống dịch bệnh tăng cao do phải áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, sử dụng thuốc sát trùng,… đã đẩy giá thịt lợn tăng cao hơn. Để phát triển chăn nuôi lợn theo hướng hàng hóa, mang tính bền vững, một trong những giải pháp được khuyến khích đó là tăng cường hiệu quả của việc áp dụng các nhóm giải pháp kỹ thuật như: chuyển đổi cơ cấu giống; đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ trong chăn nuôi; đặc biệt chú trọng giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống dịch bệnh (tiêm phòng, khử trùng tiêu độc, kiểm dịch, kiểm soát vận chuyển động vật, sản phẩm động vật.
Để hoàn thành chương trình học trong Nhà trường, thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, giai đoạn thực tập tốt nghiệp tại cơ sở trước khi ra trường rất quan trọng đối với mỗi sinh viên, nhằm củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, nâng cao tay nghề, đồng thời tạo cho mình sự tự lập, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn,đáp ứng nhu cầu của thực tiễn sản xuất. Thực tập tại các trại chăn nuôi lợn sẽ giúp sinh viên nắm được phương pháp tổ chức 2 và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, khi ra trường sẽ trở thành một người cán bộ khoa học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn,góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước. Xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, em tiến hành thực hiện đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại chăn nuôi lợn của ông Vũ Hoàng Lân, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc” 1. Những mục tiêu và yêu cầu đặt ra 1.
Mục tiêu - Củng cố kiến thức lý thuyết thông qua việc vận hành quy trình chăn nuôi lợn nái sinh sản. - Thành thạo các kỹ năng chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ. - Biết chẩn đoán và đưa ra được các phác đồ điều trị bệnh hiệu quả cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ. - Biết cách tổ chức, triển khai các hoạt động sản xuất của một trang trại chăn nuôi lơn sinh sản.
Yêu cầu - Chấp hành tốt nội quy, quy định của nhà trường và cơ sở thực tập. - Nghiêm túc, trung thực, chủ động trong việc triển khai các nội dung của khóa luận tốt nghiệp. - Không ngừng học hỏi để rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp và nâng cao kinh nghiệm cho bản thân cũng như kỹ năng làm việc nhóm và làm việc độc lập. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện tại cơ sở thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên Trại lợn của ông Vũ Hoàng Lân được xây dựng với diện tích 2 ha, nằm tại xã An Hòa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Trang trại được xây dựng khép kín, cách xa khu dân cư đảm bảo được các nguyên tắc về xây dựng chuồng trại. Trang trại bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2017, tuy là một trang trại tư nhân nhưng các trang thiết bị, hệ thống chuồng trại và nguồn cung cấp con giống, thức ăn luôn được đảm bảo. Trại có đội ngũ kĩ thuật có nhiều kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn.
Huyện Tam Dương nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Vĩnh Phúc, tổng diện tích năm 2009 là 10. Huyện Tam Dương có vị trí địa lý như sau: - Phía Đông giáp thành phố Vĩnh Yên và huyện Bình Xuyên - Phía Bắc giáp huyện Tam Đảo - Phía Nam giáp hai huyện Vĩnh Tường và huyện Yên Lạc - Phía Tây giáp huyện Lập Thạch với ranh giới là sông Phó Đáy Huyện Tam Dương có 13 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Hợp Hòa ( huyện lỵ ) và 12 xã: An Hòa, Đạo Tú, Đồng Tĩnh, Duy Phiên, Hoàng Đan, Hoàng Hoa, Hoàng Lâu, Hợp Thịnh, Hướng Đạo, Kim Long, Thanh Vân, Vân Hội. Điều kiện khí hậu Huyện Tam Dương thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt là mùa đông và mùa hạ. Ngoài ra còn mùa xuân và mùa thu là 2 mùa chuyển tiếp với thời gian không dài.
4 Lượng mưa bình quân hàng năm là 1. Mưa nhiều vào các tháng từ tháng 6 đến tháng 9 hàng năm. Nhiệt độ không khí trung bình trong năm là 24,10C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 300C vào tháng 6 và thấp nhất là 16,30C vào tháng 1. Đây là một điều kiện thuận lợi cho phát triển cây trồng.
Thời gian nắng trung bình trong năm là 1.441,82 giờ, độ ẩm không khí trung bình là 82,33%. Nhìn chung, với điều kiện khí hậu như vậy rất thích hợp cho phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, nền nông nghiệp tại đây cũng gặp không ít trở ngại do lượng mưa nhiều vì dãy núi Tam Đảo chắn hướng gió Đông Bắc.2 Điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng cơ sở thực tập 2. Quá trình thành lập Trại lợn ông Vũ Hoàng Lân được thành lập với số vốn gần 10 tỷ đồng, được đưa vào sản xuất năm 2017.
Với mục đích chuyên nuôi lợn sinh sản và lợn thịt. Khu sản xuất gồm 5 dãy chuồng, với 1 chuồng đẻ, 1 chuồng nái mang thai và 3 dãy chuồng lợn thịt. Mỗi năm số lượng lợn con xuất chuồng khoảng 3000 – 3500 con. Quy mô trang trại là 250 nái và khoảng 2000 lợn thịt.
Cơ cấu tổ chức của trại Trang trại có 9 người, bao gồm: - Một người quản lý chung là chủ trại - Một quản lý trang trại - Hai kỹ thuật trại là cán bộ kỹ thuật của công ty thức ăn chăn nuôi - Bốn công nhân - Một sinh viên thực tập Với đội ngũ nhân lực như trên thì sẽ được phân ra thành nhiều tổ, mỗi tổ sẽ đảm nhiệm một khâu sản xuất. Mỗi nhóm thực hiện công việc riêng của 5 mình với tính nghiêm túc, kỷ luật cao. Cơ sở vật chất - Trang thiết bị của cơ sở: Trang trại được trang bị đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho kỹ thuật, công nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: Tivi, tủ lạnh, quạt … Cơ sở vật chất chuồng nuôi được chú trọng đầu tư: có hệ thống quạt gió làm mát cuối chuồng, có hệ thống giàn mát đầu chuồng, hệ thống điện trong chuồng và dự phòng, có hệ thống đèn sưởi ấm cho mùa đông, hệ thống vòi uống nước tự động. - Cơ sở hạ tầng: Trang trại được chia thành hai khu chính là khu nhà ở sinh hoạt cho công nhân và khu chăn nuôi sản xuất với diện tích là 2 ha.
Trong khu nhà ở sinh hoạt chung gồm có: Cổng ra vào trại, phòng khách, nhà ăn, phòng giặt đồ, … các khu phục vụ cho các nhu cầu thiết yếu cho công nhân ngoài giờ làm. Khu chăn nuôi gồm 5 phần chính: Kho cám, Chuồng lợn đẻ, chuồng lợn mang thai, chuồng cách ly và 04 chuồng lợn thịt. Hệ thống chuồng lợn đẻ với 2 dãy chuồng chính và có của thông tại hai đầu để tiện cho việc chăm sóc nuôi dưỡng. Dãy chuồng đẻ 1 gồm 46 ô với kích thước mỗi ô là 2,4 m x 1,6 m.
Dãy chuồng đẻ 2 gồm 10 ô với kích thước tương tự, bên dưới là 5 ô úm lợn con với kích thước 5 m x 5 m, ô đẻ và ôm úm cách nhau 10m. Dãy chuồng đẻ 1 và 2 được ngăn cách nhau bởi một lớp tường. Mỗi dãy được trang bị bốn quạt làm mát ở cuối chuồng và hệ thống giàn mát ở trên đầu chuồng, ngoài ra còn có ô cửa sổ và hệ thống điện, hệ thống đèn chiếu sáng. Thứ 2 là hệ thống chuồng lợn nái mang thai: chồng có 4 dãy, 1 dãy được lắp đặt 62 ô, kích thước 2,4 m x 0,65 m/ô và 1 ô rộng có kích thước 2,4 m x 6 1,3 m.
Chuồng được trang bị 6 quạt thông gió, hệ thống giàn mát đầu chuồng, hệ thống làm mát trên mái và có các ô cửa sổ, hệ thống điện chiếu sáng trong chuồng. Bên chuồng chửa là 3 chuồng thịt, trong đó có 2 chuồng có kích thước là 15 m x 50 m trong mỗi chuồng gồm 14 ô trong đó có 2 ô là ô bệnh dùng để cách ly những con yếu và còi, 1 chuồng gồm 21 ô, trong đó có 3 ô là ô bệnh. Nguồn nước được sử dụng trong trại là nguồn nước ngầm được khai thác qua hệ thống giếng khoan, nước sau khi được bơm lên 2 bể chứa sau đó được xử lý bằng hệ thống lọc trên bể. Sau đó nước uống được đưa vào một bể Composite để khử bằng Cloraminb và được đưa lên tép cao và được đưa đi sử dụng.
Trong khu sản xuất còn có phòng tắm sát trùng, kho cám, kho thuốc, phòng tinh, nhà để máy phát điện và khu chuồng cách ly. Điều kiện thuận lợi và những khó khăn - Điều kiện thuận lợi: + Trang trại được Ủy Ban Nhân Dân các cấp các ngành quan tâm và giúp đỡ, tạo điều kiện bằng những chính sách hỗ trợ. + Trại được xây dựng ở khu riêng biệt, không gần khu dân cư, có giao thông thuận tiện. + Trang trại được xây dựng với các trang thiết bị hiện đại, đáp ứng được nhu cầu sản xuất và sinh hoạt.
+ Ban quản lý trại luôn quan tâm đến vấn đề sinh hoạt của mọi người. Có tầm nhìn và năng lực trong công việc, nắm bắt tình hình thị trường và xã hội. + Các cán bộ kỹ thuật có nhiều kinh nghiệm trong nuôi dưỡng chăm sóc đàn lợn, không ngừng cố gắng phát triển bản thân và đem lại năng xuất cao cho trang trại.