Đặt vấn đề Chăn nuôi lợn có vai trò to lớn cung cấp thực phẩm, dinh dưỡng cho trên 90 triệu người dân Việt Nam và tiến tới xuất khẩu, mang lại lợi ích đáng kể cho người chăn nuôi. Chăn nuôi lợn của nước ta đang phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, có nhiều cơ hội song cũng có nhiều thách thức trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa. Tuy nhiên hiện nay thị trường diễn biến hết sức phức tạp giá lợn xuống thấp nhất trong lịch sử ngành chăn nuôi và trên thế giới bên cạnh đó dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp việc điều trị cũng khó khăn hơn và trong đó có một số bệnh trên lợn nái sinh sản. Bệnh ở lợn nái ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, lợn con chậm phát triển.
Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản ở lợn nái. Trước xu thế phát triển chăn nuôi lợn muốn đứng vững và phát triển được phải sản xuất ra sản phẩm an toàn sức khỏe người tiêu dùng nhưng vẫn phải đảm bảo cạnh tranh khu vực và thế giới về tiêu chí ngon, rẻ và an toàn nếu không sẽ mất ngay thị trường trong nước chứ đừng nghĩ đến xuất khẩu. Để đáp ứng nhu cầu đó ngoài những yếu tố về con giống, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý thì công tác thú y cần được chú trọng và hạn chế bệnh tật, nâng cao chất lượng chăn nuôi. Để hạn chế được dịch bệnh và điều chỉnh môi trường sống phù hợp với sinh lý của vật nuôi.
Các trang trại luôn hướng tới việc xây dựng quy trình chăn nuôi khép kín, trong chuồng nuôi có lắp đặt hệ thống điều hòa không khí, hệ thống dàn mát, quạt thông gió tạo ra môi trường tiểu khí hậu thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông. Có hệ thống xử lý chất thải bằng bể bioga hay hệ thống dọn phân, ép viên tự động. Ngoài ra còn có hệ h 2 thống nước uống tự động để lợn uống nước. Tạo môi trường thuận lợi để lợn sinh trưởng và phát triển tốt nhất.
Trong chăn nuôi lợn thì lợn nái có vai trò quan trọng làm tăng số lượng cũng như chất lượng đàn lợn. Tuy nhiên, lợn nái thường mắc một số biến chứng trước và sau đẻ làm giảm năng suất, phẩm chất đàn lợn như: bệnh viêm vú, viêm tử cung, mất sữa sau khi đẻ là bệnh hay gặp ở lợn nái làm ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và gây thiệt hại rất nghiêm trọng đến kinh tế của ngành. Nhằm hạn chế bớt thiệt hại do một số bệnh gây ra trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại Vũ Hoàng Lân, Huyện Tam Dương, Tỉnh Vĩnh Phúc em tiến hành thực hiện đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh trên lợn nái sinh sản tại trang trại Vũ Hoàng Lân, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.
Mục đích - Nắm vững quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản. - Hiểu rõ tác dụng của các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn. - Chẩn đoán, điều trị một số bệnh trên đàn lợn nái. - Rèn luyện tay nghề nâng cao, hiểu biết kinh nghiệm thực tế.
Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi. Yêu cầu - Đánh giá tỷ lệ mắc và hiệu quả điều trị bệnh. - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại. - Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và áp dụng được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng.
Ý nghĩa của đề tài - Vận dụng kiến thức đã học vào công tác sản xuất và phòng trị bệnh cho chăn nuôi. - Biết cách đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm. - Nâng cao kiến thức thực tế và rèn luyện kỹ năng thích nghi. - Biết phân tích, đánh giá và đưa ra phương án phòng và trị bệnh cho lợn.
h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 2. Vị trí địa lý Trang trại chăn nuôi của anh Vũ Hoàng Lân thuộc địa bàn xã An Hòa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
Vị trí địa lý huyện được xác định như sau: - Phía Bắc giáp huyện Tam Đảo. - Phía Đông giáp huyện Bình Xuyên và thành phố Vĩnh Yên. - Phía Nam giáp huyện Vĩnh Tường và huyện Yên Lạc. - Phía Tây giáp huyện Lập Thạch.
Khí hậu Tam Dương là một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do đó trại lợn của anh Vũ Hoàng Lân chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng. Huyện Tam Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt là mùa đông và mùa hạ. Ngoài ra còn mùa xuân và mùa thu là hai mùa chuyển tiếp với thời gian không dài.
Lượng mưa bình quân hàng năm là 1. Mưa nhiều từ tháng 6 đến tháng 9 hàng năm. Nhiệt độ không khí trung bình trong năm là 24,1C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 30C (tháng 6), thấp nhất là 16,3C (tháng 1). Độ ẩm không khí trung bình năm 82,33%, độ ẩm trung bình tháng cao nhất là 86% (tháng 4, tháng 8).
Độ ẩm trung bình thấp nhất là 76% (tháng 12). Gió theo hai mùa chính trong năm: - Mùa hạ: Gió mùa Đông - Nam thịnh hành thổi từ tháng 3 đến tháng 10. h 5 - Mùa Đông: Gió mùa Đông - Bắc thịnh hành thổi từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau. Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu tổ chức trại bao gồm: - 01: chủ trại, quản lý.
- 01: kỹ sư của Công ty TNHH Cargill Việt Nam. Cơ sở vật chất của trang trại Trang trại có tổng diện tích 2 ha bao gồm: khu chăn nuôi, khu nhà ở, ao cá, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, cây ăn quả. Trại lợn được chia làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất. Khu điều hành gồm nơi làm việc của quản lý trại và nơi ăn, ở của công nhân.
Khu sản xuất gồm: 2 chuồng thịt, 1 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu, chuồng cách ly. Một số công trình khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng tinh, phòng sát trùng, kho chứa vật liệu. Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín, hiện đại kết hợp hầm bioga tận dụng chất thải trong chăn nuôi. Đầu chuồng là hệ thống dàn mát, cuối chuồng là hệ thống quạt gió cùng với đó là hệ thống nước uống tự động và hệ thống máng ăn hiện đại phục vụ cho chăn nuôi.
Trại có tường rào bao quanh cùng hệ thống cây xanh nhằm ngăn chặn mầm bệnh xâm nhập từ ngoài vào môi trường chăn nuôi. Nguồn nước uống, tắm, rửa, xả gầm hằng ngày đều được xử lý trước khi sử dụng. Các khu vực trong khu chăn nuôi, đường đi giữa các ô chuồng đều được đổ bê tông và có hố sát trùng để diệt mầm bệnh. Mọi công nhân trong trại và h 6 khách tới thăm đều phải qua hệ thống sát trùng, thay quần áo, đeo khẩu trang, ủng chuyên dụng trước khi vào chuồng.
Thuận lợi và khó khăn 2. Thuận lợi Trại được xây dựng xa khu dân cư, giao thông thuận tiện. Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Đội ngũ công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong công việc.
Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại nên rất phù hợp với chăn nuôi công nghiệp hiện nay. Khó khăn Thời tiết diễn biến phức tạp hay xảy ra rét đậm rét hại, nguy cơ hạn hán, thiên tai, dịch bệnh có thể xảy ra trên diện rộng, nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn, không triệt để, chi phí phòng ngừa và chữa bệnh tăng, ảnh hưởng tới giá thành chăn nuôi. Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng cao gây ảnh hưởng không nhỏ tới chăn nuôi của trang trại. Giá lợn hiện nay diễn biến thất thường, có lúc hạ sâu kỷ lục ảnh hưởng rất lớn đến người chăn nuôi.
Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 2. Đối tượng Trại đưa vào hoạt động năm 2017 và đến tháng 2 năm 2018 bắt đầu có lứa lợn đẻ đầu tiên. Công tác chọn giống được chủ trại quan tâm, chú trọng, trại đã chọn mua giống lợn hai máu Yorkshier và Landrace nuôi gây giống, ưu điểm của giống này là đẻ sai con, nuôi con khéo, tuổi sử dụng kéo dài, khả năng tiết sữa tốt, chịu đựng tốt trong điều kiện khí hậu. Mỗi con lợn nái có thể h 7 đẻ từ 2,2 đến 2,5 lứa/năm, mỗi lứa đạt từ 10 - 12 con lợn.
Lợn con 21 đến 23 ngày thì cai sữa tách đàn. Kết quả sản xuất Năm 2017: 100 heo hậu bị và 1500 heo thịt (lúc này do mới đi vào hoạt động nên số lợn thịt này phải nhập từ Công ty TNHH Japfa comfeed Việt Nam). Với quy mô hai chuồng thịt là 1000 con, chuồng bầu 200 nái thì trại hoàn toàn có khả năng đẩy mạnh số lượng nhưng do tình hình về giá cả xuống thấp kỷ lục nên việc đẩy mạnh bị hạn chế. Tổng quan tài liệu 2.
Cấu tạo giải phẫu cơ quan sinh dục cái Theo Đặng Quang Nam (2002) [12], cơ quan sinh dục cái gồm các bộ phận sau: - Buồng trứng (Ovarium): Gồm một đôi (dài 1,5 - 2,5cm), khối lượng 35 gam nằm trước cửa xoang chậu, ứng với vùng đốt sống hông 3 - 4. Bề mặt buồng trứng có nhiều u nổi lên. Buồng trứng được bọc ở ngoài bởi màng liên kết sợi chắc, bên trong chia làm 2 phần, cả 2 phần đều phát triển một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên một loạt chất đệm. Dưới lớp màng liên kết của buồng trứng có nhiều tế bào trứng non phát triển dần thành nang trứng nguyên thủy, sau đó phát triển thành nang trứng sơ cấp và cuối cùng phát triển thành bao noãn chín.
Dưới tác dụng của kích tố đặc biệt là kích tố sinh dục tuyến yên, trứng chín sẽ rụng. Như vậy, buồng trứng có 2 chức năng là sản sinh ra tế bào trứng và tiết ra hormone sinh dục có ảnh hưởng tới tính biệt, tới chức năng tử cung (đặc tính thứ cấp của con cái).