Đặt vấn đề Hiện nay chăn nuôi lợn có tầm ảnh hưởng khá lớn đến nhu cầu thực phẩm và giải quyết vấn đề việc làm cho đời sống nhân dân. Trước đây khi nền kinh tế nước ta chưa phát triển thì nước ta chỉ nuôi các giống lợn nội trong nước như: lợn Ỉ, Móng Cái, Ba Xuyên,.với hình thức chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ, nông hộ. Đây là những giống lợn cho năng suất thấp, chất lượng thịt chưa cao, tỷ lệ thịt xẻ thấp và khả năng tiêu tốn thức ăn cao. Nguồn thức ăn cho lợn cũng là những phụ phẩm nông nghiệp tận dụng như cám gạo, rau bèo, thân cây chuối,… vì vậy mang lại hiệu quả kinh tế không cao.
Dịch bệnh tả lợn châu Phi (African swine fever - ASF) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn lợn, bệnh do một loài vi rút thuộc họ Flaviviridiae gây ra. Bệnh có đặc điểm lây lan nhanh và loài vật cảm nhiễm với bệnh là lợn nuôi và lợn hoang dã. Tuy nhiên, bệnh dịch tả lợn châu Phi không lây sang người nhưng bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng tới ngành chăn nuôi lợn do tỷ lệ chết thường 100%. Tại Việt Nam, ổ dịch đầu tiên xảy ra từ tháng 2 năm 2019 tại tỉnh Hưng Yên sau đó đã lan rộng trên hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước, nhiều cơ sở chăn nuôi lợn đã phải đóng cửa, làm cho số lượng đàn lợn giảm đáng kể.
Do nhu cầu tiêu dùng trong nước về thịt lợn ngày càng tăng cao. Cùng với đó, thịt lợn giúp đóng góp vào cơ thể con người rất nhiều loại vitamin và khoáng chất khác nhau như photpho, kali, vitamin B6, vitamin B12, kẽm,. Trong đó, hàm lượng vitamin B có trong thịt lợn là nguồn vitamin chính mà con người nhận từ thực phẩm. Nhận thấy nhiều tiềm 2 năng như vậy, công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam đã đặt cơ sở chăn nuôi lợn tại thôn An Bảo, xã Hiệp Hòa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
Trong những năm gần đây đang mở rộng mô hình chăn nuôi lợn với mục tiêu cung cấp con giống, thực phẩm cho thị trường, vì vậy nhiều hệ thống trang trại đã được mở ra với quy mô lớn nhất là ở khu vực miền Nam, cùng với đó các giống lợn ngoại như: Landrace, Yorkshire, Duroc có năng suất cao cũng được công ty nhập về để tạo ra các con lai 2, 3, 4 máu, góp phần nâng cao khả năng sản xuất, sinh sản và chất lượng thịt. Những giống lợn này được sử dụng với nhiều mục đích đặc biệt nhằm nâng cao năng suất cũng như chất lượng thịt và đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của con người. Bên cạnh đó, phát triển chăn nuôi tập trung với đội ngũ chuyên môn hóa cao và nâng cao quy mô cũng là xu thế tất yếu và cần thiết. Tuy nhiên trên thực tế, việc nuôi dưỡng, chăm sóc vẫn gặp nhiều khó khăn do lợn ngoại còn đòi hỏi điều kiện nuôi tối ưu, khả năng thích nghi với môi trường kém, tình hình dịch bệnh phức tạp, nên việc đánh giá năng suất sinh sản là rất cần thiết.
Ngoài ra, chăn nuôi lợn nái sinh sản là một khâu quan trọng trong chăn nuôi lợn, là yếu tố quyết định thành công của chăn nuôi lợn, đặc biệt trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái nhằm tạo ra đàn con có hướng thịt cao, nhiều nạc. Tập trung nguồn lực vào khâu này sẽ là tiền đề để phát triển nhanh số lượng lẫn chất lượng đàn lợn. Tóm lại, việc chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản là hết sức quan trọng và cần thiết, do đó, em thực hiện đề tài: “Thực 3 hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại Việt Anh, xã Hiệp Hòa, huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng”.
Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 1. Mục đích - Nắm rõ việc thực hiện các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con và lợn mẹ nuôi tại trang trại. - Phát hiện chẩn đoán phòng và trị được một số bệnh phổ biến trên đàn lợn tại trang trại. Yêu cầu của đề tài - Tham gia đầy đủ, nhiệt tình vào các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản tại cơ sở.
- Thu thập chính xác, đầy đủ số liệu liên quan đến chuyên đề. - Chấp hành nghiêm chỉnh đúng và đủ mọi nội quy, quy định của trang trại đặt ra, mặt khác, tham gia thực hiện một số công việc khác. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện tự nhiên và vật chất của cơ sở thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lý Xã Hiệp Hòa thuộc huyện Vĩnh Bảo có diện tích tự nhiên là 5 km2. Huyện Vĩnh Bảo có địa hình đồng bằng, là nơi giao nhau của quốc lộ 10 và quốc lộ 37, có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của thành phố Hải Phòng. Sông Hóa là điểm cực Đông của huyện, sông này đổ vào sông Thái Bình. Vị trí địa lí của trang trại được xác định như sau: + Phía Đông: giáp xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, TP.
Hải Phòng. + Phía Nam: giáp xã An Hòa, huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng. + Phía Bắc: giáp xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Bảo, TP.
Hải Phòng. + Phía Tây: giáp với tỉnh Thái Bình. * Điều kiện địa hình, đất đai Nằm ở phía Nam của thành phố Hải Phòng thuộc vùng đồng bằng sông Hồng. Không có đồi núi cao nên địa hình ít bị chia cắt.
Tài nguyên khoáng sản của huyện cũng khá là phong phú như: đất sét, than, cát, muối. * Điều kiện khí hậu, sông ngòi Huyện Vĩnh Bảo có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, có bốn mùa (Xuân, Hạ, Thu, Đông) rõ rệt. 5 Mạng lưới sông ngòi huyện Vĩnh Bảo dày đặc, có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế, thuận lợi cho việc xây dựng các hồ chứa nước chống bị lũ lụt, phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện. Nhìn chung khí hậu, hệ thống sông ngòi cũng khá thuận lợi trong sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi trên địa bàn huyện.
Điều kiện cơ sở vật chất của cơ sở nơi thực tập Trang trại Việt Anh khánh thành từ năm 2010, đây là trại liên kết với công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam với quy mô khá lớn tầm 600 lợn nái. Trại được xây dựng tại xã Hiệp Hòa thuộc huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng. Tổng diện tích trại khoảng 46.
Trong đó: - Diện tích chuồng: 4.300 m2 +1 chuồng cách ly: 400 m2 + 1 chuồng cai sữa: 800 m2 - Diện tích các kho, bể bioga: 8.100 m2 - Diện tích đất dành cho trồng cây: 5.000 m2 - Diện tích đất dành cho xây dựng: 2.000 m2 - Diện tích mặt nước của ao hồ chứa nước và nuôi cá: 2.500m2 Trang trại Việt Anh đã xây dựng khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, khu bếp ăn tập thể, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động vui chơi giải trí, thể dục thể thao của trang trại, với diện tích 2. 6 Trang trại nằm trên đường giao thông đã được cải tạo và nâng cấp, do vậy, việc đi lại và vận chuyển nguyên liệu đến trang trại trở nên rất dễ dàng, thuận tiện hơn. Cơ sở vật chất của trại được đầu tư tương đối đầy đủ để phục vụ cho phát triển chăn nuôi lợn như: các hệ thống nước, điện; kho cám, kho thuốc; phòng pha tinh… Đối với việc phát triển sản xuất chăn nuôi lợn và sinh hoạt của công nhân, trang trại đã trang bị các nguồn lực như sau: Các dãy nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn tập thể, các công trình phục vụ sinh hoạt và các hoạt động khác cho công nhân trại. Khu chăn nuôi được xây dựng hàng rào xung quanh, có cổng sát trùng ra vào.
Chuồng trại được thiết kế xây dựng theo hướng công nghiệp hiện đại có hệ thống chuồng nuôi lồng, sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực và sàn nhựa cho lợn con. Ngoài ra, trang trại còn có hệ thống máng ăn và vòi nước tự động. Chuồng nuôi của trang trại xây dựng cho khoảng 600 nái, bao gồm các dãy chuồng sau: + Chuồng nái đẻ: có tổng cộng 3 chuồng, mỗi chuồng có 2 dãy tương ứng với 56 ô chuồng, có trang bị sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ. + Chuồng nái chửa: có 1 chuồng, đây là chuồng nuôi và chăm sóc lợn mẹ trong quá trình mang thai.
+ Chuồng cách ly: có 1 chuồng, dùng để cách ly từ các trại gia công lợn hậu bị trước khi cho nhập đàn, chuồng có diện tích cho khoảng 100 - 140 lợn hậu bị. Lợn phải cách ly ít nhất là 21 ngày, trong thời gian đó lợn được theo 7 dõi tình trạng sức khỏe và sử dụng vắc xin đầy đủ trước khi được đưa lên làm lợn nái sinh sản. - Chuồng trại được xây dựng theo mô hình khép kín hoàn toàn nhằm đảm bảo yếu tố an toàn sinh học. Hệ thống giàn mát nằm ở phía đầu chuồng, 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 10 quạt đối với chuồng bầu, 4 quạt thông gió đối với chuồng cách ly, chuồng cai sữa nằm ở phía cuối chuồng.
Nhìn chung, hệ thống chuồng của trang trại được thiết kế đảm bảo ấm áp về mùa đông, thoáng mát về mùa hè và giúp giảm thiểu lượng khí độc trong chuồng. Các chuồng đều được trang bị các dãy cửa sổ lắp kính, với chuồng bầu lắp cả 2 bên tường, đối các chuồng đẻ, chuồng cách ly và cai sữa lắp kính 1 bên tường. - Hệ thống chiếu sáng: có bóng đèn hồng ngoại để sưởi, úm lợn con, có nguồn cấp điện có điện lưới và máy phát điện dự phòng. - Nước dùng cho các khu vực chăn nuôi của trang trại là nước máy.
- Phòng pha tinh được đầu tư với nhiều trang thiết bị hiện đại như: thiết bị cảm ứng nhiệt, kính hiển vi quang học, nồi hấp cách thủy, dụng cụ đóng liều tinh, đèn cồn, máy ép ống tinh, que phối, tủ lạnh, nồi hấp, pank, kéo, bếp gas,. - Hệ thống xử lý môi trường: các chất thải rắn của trang trại được xử lý bằng hệ thống biogas trước khi được loại thải ra môi trường bên ngoài. Mặt khác, trang trại còn có khu vực tiêu hủy lợn bệnh, chết và cách xa khu vực chuồng trại. - Xung quanh trại trồng cây bóng mát, cây ăn quả, trồng rau và nuôi cá tạo môi trường thoáng mát.
8 Khu sản xuất có cổng riêng, bao gồm: 1 kho sắt, 1 kho cám, 3 phòng tắm sát trùng, 1 kho thuốc, 1 nhà ăn và 2 phòng nghỉ trưa cho công nhân.