Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, chạy theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà đời sống kinh tế phát triển mạnh kéo theo nhu cầu về cuộc sông cũng như nhu cầu về số lượng và chất lượng thực phẩm ngày càng nâng cao. Một trong những thực phẩm có giá trị dinh dưỡng, dễ hấp thu và được người tiêu dùng quan tâm đó là sữa mà chủ yếu là sữa bò. Ở nước ta, nghề chăn nuôi bò sữa ngày càng phát triển, nó nhằm cung cấp một lượng lớn sữa cho nhu cầu của cuộc sống. Sữa là loại thực phẩm mang lại giá trị dinh dưỡng rất cao cho con người, đặc biệt là sữa bò và các sản phẩm từ sữa bò như phô mai, bơ, sữa tươi, sữa tiệt trùng.Suốt thời gian dài gần 300 ngày sau khi sinh con, bò liên tục tiết ra nguồn sữa bổ dưỡng, nhưng không phải chỉ để nuôi con mà phần lớn để cung cấp cho nhu cầu sử dụng của con người.
Năm 2004, toàn thế giới sản xuất khoảng 620 triệu tấn sữa, trong đó 80 – 90 % từ trâu bò. Chăn nuôi bò sữa hiện đang là một trong những ngành kinh tế phát triển hàng đầu thế giới đòi hỏi quy trình phức tạp từ khâu chọn giống cho đến việc vắt sữa. Các nước phát triển ở châu Âu, Bắc Mỹ và châu Đại Dương sản xuất tới 68% sản lượng sữa của thế giới với năng suất sữa bình quân cao hơn nhiều so với các nước đang phát triển. Bò sữa của Israel cho lượng sữa trung bình hàng năm cao nhất thế giới, 10.304 triệu lít sữa đã được sản xuất bởi các đàn bò của Israel trong năm 2010.
h 2 Hầu hết sản lượng sữa của Israel đều xuất phát từ các trang trại nuôi giống bò Israel-Holsteins, một giống cho sản lượng cao và có sức đề kháng tốt. Chăn nuôi bò nói chung và bò sữa nói riêng là vấn đề rất quan trọng trong quá trình phát triển ngành chăn nuôi bò sữa, đảm bảo cung cấp đầy đủ chất lượng cũng như số lượng sữa đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy, việc áp dụng quy trình kĩ thuật tiên tiến trong chăn nuôi bò sữa là rất cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó em tiến hành chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho bò sữa tại Trang Trại bò sữa Kibbutz lotan Israel”.
Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại kibbutz lotan, phía Nam Israel. - Áp dụng quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn bò sữa nuôi tại trang trại đạt hiệu quả cao. - Xác định được tình hình nhiễm, áp dụng và đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn bò sữa nuôi tại trang trại.
Yêu cầu - Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trang trại nước Israael. - Áp dụng quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn bò sữa nuôi tại trang trại đạt hiệu quả cao. - Xác định được tình hình nhiễm, áp dụng và đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn bò sữa nuôi tại trang trại. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Điều kiện cơ sở thực tập 2. Ví trí địa lí Trang trại Kibbutz lotan nằm ở vùng Arava phía nam Israel, là phần khô hạn nhất của hoang mạc Negev, thung lũng Arava kéo dài từ phía nam của Biển Chết tới vịnh Eilat Thung lũng Arava là niềm tự hào của người dân israel, những phép màu nở hoa giữa xa mạc của khoa học công nghệ. Kibbutz Lotan là thành viên của chi nhánh Mạng lưới sinh thái toàn cầu châu Âu và năm 2006 đã được trao cho EcoVillage Excellence để ghi nhận công việc của mình trong việc thúc đẩy xây dựng tự nhiên, quản lý chất thải và giáo dục môi trường và cũng để thúc đẩy sự bền vững thông qua việc xây dựng các cây cầu khác nhau các nhóm dân tộc trên khắp Israel. Điều kiện khí hậu Israel có khí hậu Địa Trung Hải đặc trưng bởi mùa hè dài, nóng và khô cùng với mùa đông ngắn, lạnh và nhiều mưa, thay đổi theo vĩ độ và độ cao.
Mùa hè ở vùng dọc bờ biển Địa Trung Hải rất ẩm nhưng tại Negev thì khô. Khí hậu được xác định bởi vị trí của Israel giữa đặc điểm khô cằn cận nhiệt đới của Ai Cập và ẩm cận nhiệt đới của Levant hay phía đông Địa Trung Hải. Arava là vùng đất khô cằn nhất thế giới nằm trong hoang mạc Negev. Lượng mưa bình quân trong khu vực này chỉ 20 – 50 mm mỗi năm.
Nhiệt độ mùa hè bình quân lên đến 40 độ C và ban đêm là 25 độ C. Nhiệt độ mùa đông ban ngày là 25 độ C và mùa đông 3 – 8 độ C. Độ ẩm cực thấp và sự chênh h 4 lệch nhiệt độ lớn khiến đã vỡ vụn khắp hoang mạc phủ lớp đá vụn và cát đặc thù sa mạc. Cơ cấu tổ chức của trang trại Trung tâm gồm có 11 người: + 01 ông chủ + 05 công nhân + 05 sinh viên thực tập 2.
Cơ sở vật chất của trang trại Trang trại chia thành 04 khu vực: Khu vực nuôi nhốt, khu vực vắt sữa, khu vực nhà kho và khu vực nhà ở. Khu vực nuôi nhốt gồm có 04 chuồng: chuồng nuôi bê non, chuồng nuôi bò sữa cái đang vắt sữa, chuồng nuôi bò đang chửa và bê non cai sữa Khu vực chuồng nuôi bò sữa là 1 ha gồm: 1 nhà sản xuất thức ăn tổng hợp cho bò sữa, 1 nhà máy vắt sữa, 8 dãy chuồng, chiều dài một chuồng là 80 m, rộng 15 m, ở giữa mỗi chuồng có các ô cho bò nằm nghỉ và các lỗi đi xung quanh tạo điều kiện thuận lợi cho việc vệ sinh chuồng và lùa bò đi đến các vị trí khác. Mỗi dãy đều có máng ăn, máng uống tự động. Khu vực nuôi bê non chưa cai sữa.
Diện tích xây dựng 300 m2, có 25 chuồng riêng rẽ gồm: 3 dãy chuồng, chuồng riêng rẽ, mỗi chuồng nhốt 2 con bò non, có đường đi rộng rãi giữa các dãy và các Trang trại có nhà điều hành chung, nhà, bếp ăn cho công nhân, sinh viên và các hoạt động khác của trang trại. Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng. Ở kibbutz lotan nước rất khan hiếm, chủ yếu là làm sạch nước thải đã qua sử dụng và nước từ các hồ chứa tự nhiên. Nước uống, nước tắm, nước h 5 phục vụ cho công tác khác được cấp từ một bể lớn, bể được bố trí xây dựng ở đầu chuồng và có hệ thống lọc và xử lí trước khi dẫn nước vào chuồng.
Có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: máy giặt, tắm nóng lạnh, tivi, tủ lạnh, quạt,. Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được chủ trang trại chú trọng đầu tư hơn hết. - Có hệ thống quạt gió, điện sáng, máng uống nước tự động. - Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho bê con vào mùa đông.
- Ngoài ra, trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trang trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi khi mất điện. Tình hình sản xuất tại cơ sở Bằng cách áp dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến vào quá trình chăn nuôi và vắt sữa bò, số lượng bò sữa và sản lượng sữa ngày càng được nâng cao cả về chất lượng và số lượng. Thống kê số lượng bò của trang trại năm 2018 và 2019 Thống kê lượng bò của trang trại Bò sữa Bò cái tơ Bê cai sữa Bê non Năm Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ con (%) con (%) con (%) con (%) 2018 364 56,61 69 10,73 185 28,77 25 3,89 2019 378 56,59 62 9,28 203 30,39 25 3,74 2. Thuận lợi và khó khăn * Thuận lợi Được học tập và làm việc trong trang trại với máy móc hiện đại, áp dụng quy trình tiên tiến hàng đầu thế giới về chăn nuôi bò sữa.
h 6 Trang trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: Xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông. Chủ trang trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân, sinh viên. Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong chăn nuôi. Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi bán khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trung tâm.
* Khó khăn Dịch bệnh diễn biến phức tạp, nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh trưởng, phát triển của đàn bò sữa. Số lượng bò sữa nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trang trại gặp nhiều khó khăn. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 2. Cơ sở khoa học 2.
Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của bò HF * Nguồn gốc Bò Hà Lan (bò HF) là một giống bò sữa có nguồn gốc từ Hà Lan gần 2000 năm trước đây. Bắt nguồn từ bò đen và trắng của Batavia và Fiezians được phối giống và loại thải nhằm tạo ra giống bò có sản lượng sữa cao nhất. Cuối cùng qua quá trình tiến hóa về mặt di truyền đã tạo thành giống bò sữa trắng đen năng xuất cao mang tên Holstein Friezian. Holstein Friezian h 7 * Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất Hình 2.
Bò Holstein Friezian Bò Hà Lan chủ yếu có màu lang trắng đen, nhưng vẫn có con lang trắng đỏ. Bò cái có thân hình chắc chắn gần như hình thang, tầm vóc lớn, vú to, bầu vú phát triển, mắn đẻ, hiền lành, và có khả năng sản xuất sữa rất cao. Bò Hà Lan cho trung bình 50 lít mỗi ngày, chu kì 300 ngày cho 10.000 lít, chu kỳ 300 ngày cho 3. Bò đực có thân hình chữ nhật, sừng nhỏ, yếm bé.
Khối lượng bò đực: 600 kg/con, bò có thể bắt đầu phối giống lúc 15 – 18 tháng tuổi. Đây là giống bò thích nghi rất tốt ở nhiều vùng khí hậu khác nhau trên thế giới. Mặc dù có nguồn gốc ôn đới nhưng đã được nuôi lai tạo thành những dòng có thể nuôi được ở các nước nhiệt đới. Một số bệnh thường gặp ở bò sữa 2.