Đặt vấn đề Hiện nay, cùng với sự hội nhập và phát triển kinh tế của nước ta và các nước trên thế giới, ngành chăn nuôi nước ta đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là chăn nuôi lợn. Sản phẩm ngành chăn nuôi mang lại giá trị lớn cho con người, là nguồn cung cấp thực phẩm với số lượng lớn, chất lượng tốt. Bên cạnh đó chăn nuôi lợn cũng còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ như da, lông, mỡ,. cho ngành công nghiệp chế biến (Nguyễn Xuân Trạch và cs.
Nhằm đáp ứng đủ nhu cầu về thực phẩm nguồn gốc động vật ngày càng tăng nhanh của con người, với sự ứng dụng hiệu quả các thành tựu của khoa học và công nghệ, ngành chăn nuôi đã được hiện đại hóa về công nghệ và cho ra đời nhiều hệ thống chăn nuôi thâm canh. Trong những năm gần đây nhờ áp dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật vào sản xuất, nghề chăn nuôi lợn nước ta có những bước phát triển mạnh như tăng tổng số đàn, cơ cấu đàn lợn đa dạng, năng suất, chất lượng cao. Chăn nuôi theo kiểu hộ gia đình ngày càng giảm thay vào đó là các trang trại với quy mô nhỏ và vừa ngày càng tăng lên (Nguyễn Xuân Trạch, 2019) [27]. Sản xuất chăn nuôi 9 tháng đầu năm 2020 gặp nhiều khó khăn do tác động từ dịch tả lợn châu Phi; dịch Covid-19 trên thế giới diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng đến sản xuất.
Trước những khó khăn đó, ngành chăn nuôi đã có nhiều giải pháp ứng phó kịp thời, hiệu quả nên kết quả sản xuất đạt khá, chăn nuôi lợn đang dần khôi phục. Theo Tổng cục Thống kê, dịch tả lợn châu Phi cơ bản được kiểm soát, đàn lợn đang dần khôi phục nhưng việc tái đàn vẫn còn chậm, giá lợn giống liên tục ở mức cao kể từ đầu năm nên việc tái đàn chủ yếu tập trung ở các cơ sở chăn nuôi lớn. Trong tình hình đó, nước ta m 2 vẫn có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi lợn như có nguồn nguyên liệu dồi dào cho chế biến thức ăn, có sự đầu tư của nhà nước, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến (Nguyễn Đăng Vang, 2020) [26]. Để phát triển, nâng cao giá trị kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn, chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công trong chăn nuôi lợn.
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập, chúng tôi đã tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Tín Nghĩa, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội”. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục tiêu của chuyên đề - Đánh giá tình hình chăn nuôi của trang trại. - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản.
- Xác định tình hình nhiễm, áp dụng và đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại. Yêu cầu của chuyên đề - Đánh giá được tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại. - Thành thạo quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại. - Phân tích được quy trình vệ sinh, phòng và trị một số bệnh thường gặp ở đàn lợn nái tại trại.
m 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện của trang trại 2. Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý: Ứng Hoà là huyện đồng bằng nằm ở Đông Nam tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc thành phố Hà Nội), có diện tích tự nhiên là 183.
Dân số: khoảng 204. Phía Bắc giáp huyện Chương Mỹ và Thanh Oai, Phía Nam giáp huyện Duy Tiên (Hà Nam) và Kim Bảng (Hà Nam), Phía Tây giáp huyện Mỹ Đức, Phía Đông giáp huyện Phú Xuyên. Địa hình: Nhìn chung, địa hình của Ứng Hòa tương đối bằng phẳng. Sông Đáy là phân giới tự nhiên phía tây của huyện, đồng thời cũng là giao tuyến phân chia địa hình núi đá vôi với đồng bằng chiêm trũng.
Hồng Quang thì có một thôn nằm trong vùng địa hình núi đá vôi. Khí hậu: huyện Ứng Hòa có đặc điểm là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa. Nằm trong vùng nhiệt đới, Ứng Hòa quanh năm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào cao nhất là tháng 6 (29,8ºC), thấp nhất là tháng 1 (17,2ºC). Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 70-85%.
Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.900mm và mỗi năm có khoảng 114 ngày mưa. Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu của trại được tổ chức như sau: 01 chủ trại 01 quản lý 01 quản lý kĩ thuật m 4 01 nấu ăn 06 công nhân và 02 sinh viên thực tập. Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ, nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, tổ chuồng cai sữa. Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi đều được khoán đến từng công nhân và sinh viên, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại.
Cơ sở vật chất của trang trại - Thiết kế xây dựng: diện tích đất trang trại là 2 ha .Trước cổng ra vào trại có nước sát trùng, có vòi phun sát trùng cho phương tiện giao thông ra vào trại, cách cổng chính 100m là khu đón khách, trại lợn có khoảng 0.2ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại. - Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho hơn 500 nái bao gồm: 4 chuồng đẻ có 112 ô kích thước 2,05m × 1,8 m/ô, 2 chuồng bầu có 520 ô kích thước 2,06 m × 0,66 m/ô, 1 chuồng cách ly, 3 chuồng cai sữa, cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc… + Hệ thống chuồng bầu: mỗi chuồng gồm 4 dãy, nuôi các lợn chờ lên giống, lợn đang phối, lợn mới phối xong đang ở giai đoạn đầu và lợn đực giống lấy tinh. Cuối dãy 1 là khu lợn có vấn đề và lợn loại thải. Sàn chuồng đều được làm bằng bê tông, sàn cao bằng nền chuồng, giúp công việc vệ sinh khử trùng được dễ dàng.
Bên cạnh chuồng bầu là phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy lọc nước, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy, dụng cụ và một số thiết bị khác. + Hệ thống chuồng đẻ: chuồng gồm 2 dãy gồm các ô được đánh thứ tự để dễ dàng chăm sóc và quản lý. Sàn chuồng lợn mẹ làm bằng bê tông, sàn lợn con làm bằng nhựa cứng. Phần chuồng cho lợn con khá rộng, một góc để lồng úm, lồng úm được làm bằng khung sắt, mỗi lồng úm được trang bị một bóng đèn sưởi ấm, bên ngoài là một máng tập ăn cho lợn con.
m 5 + Hệ thống chuồng cai sữa: mỗi chuồng được chia ra 4 ô, mỗi ô rộng 25m², mỗi ô nuôi được 25 con, 1 ô cuối để chứa lợn con bị bệnh. - Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối mỗi chuồng đẻ và chuồng bầu đều có 6 quạt thông gió và 4 quạt đối với chuồng cách ly và chuồng cai sữa có 5 quạt. Hai bên tường có dãy cửa sổ , mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m², cách nền 0.95 m, mỗi cửa sổ cách nhau 2m.
Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh. - Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng. - Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan. Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở bên ngoài khu chăn nuôi.
Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng. Thuận lợi, khó khăn 2. Thuận lợi - Trại được xây dựng ở vị trí cách xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông. - Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc.
- Công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc. - Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay. Khó khăn - Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết biến đổi thất thường nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn. - Giá cả thị trường luôn biến động, giá thịt lợn giảm xuống mức thấp nhất trong lịch sử ngành chăn nuôi khiến doanh nghiệp thua lỗ.
m 6 - Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh cao. - Dịch bệnh vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Thời gian vừa qua, bệnh dịch tả lợn Châu Phi đã khiến ngành lợn của nước ta điêu đứng với những con số thiệt hại chưa từng có, ảnh hưởng tới an ninh thực phẩm, kinh tế, xã hội và môi trường…. Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh cao.
- Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng cao gây ảnh hưởng tới chăn nuôi của trang trại. Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện 2. Những hiểu biết về quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái, lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 2. Chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái Kỹ thuật cơ bản trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của một trang trại chính vì vậy phải thực hiện rất nghiêm ngặt, tỉ mỉ và chính xác mới đạt được năng suất cao.
Để tăng năng suất chung của toàn trại cần làm tăng tỉ lệ đẻ, tăng số con/1nái/năm, đồng thời cần làm giảm tỉ lệ loại thải, tỉ lệ chết nái, chết con. Do đó, quy trình kỹ thuật tốt cần phải đáp ứng được 3 mục tiêu là: con giống tốt, quản lý, chăm sóc tốt và phòng, trị bệnh nghiêm ngặt. * Giống: muốn chọn được con giống có chất lượng tốt thì từ khi sinh ra cho đến lúc chọn giống lợn phải đạt khối lượng > 80 kg.