Chương 1, Phụ lục K Công ước Kyoto về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan (sửa đổi năm 1999) nêu rõ khái niệm về quy tắc xuất xứ. Theo đó, “quy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 tắc xuất xứ là các quy định được pháp luật quốc gia hoặc các điều ước quốc tế xây dựng, được một quốc gia áp dụng để xác định xuất xứ của hàng hóa. Hiệp định 214/WTO/ Văn bản về Quy tắc xuất xứ (Điều 1) định nghĩa: Quy tắc xuất xứ được định nghĩa là những luật, quyđịnh, quyết định hành chính chung do các thành viên áp dụng để xác định nước xuất xứ của hàng hóa với điều kiện là qui tắc xuất xứ này không liên quan đến thoả thuận thương mại hoặc chế độ thương mại tự chủ có áp dụng ưu đãi thuế quan ngoài phạm vi điều chỉnh của khoản 1 Điều I của GATT 1994. Hiệp định về Quy tắc xuất xứ của WTO (Phụ lục 2) định nghĩa:Quy tắc xuất xứ ưu đãi được định nghĩa là các luật, qui định, quyết định hành chính mà thành viên áp dụng để xác định hàng hóa có đủ tiêu chuẩn được hưởng đối xử ưu đãi theo chế độ thương mại dành ưu đãi lẫn nhau hay một chiều dẫn tới áp dụng ưu đãi thuế vượt ngoài phạm vi áp dụng của khoản 1- Điều I – GATT 1994.2 Các quy tắc chính trong quy tắc xuất xứ ưu đãi trong các FTA Xuất xứ thuần túy Nhóm sản phẩm đương nhiên có xuất xứ nếu: - Đáp ứng tiêu chí xuất xứ nội địa hoàn toàn, đó là những hàng hóa được chế tác hoặc tạo ra hoàn toàn trên lãnh thổ của một hay các nước thành viên FTA đó.
- Đáp ứng tiêu chí xuất xử nội vùng (trong nội bộ các nước thành viên của FTA). Đó là những hàng hóa được sản xuất hoàn toàn trên lãnh thổ của một hoặc nhiều bên bằng các nguyên liệu “có xuất xứ” từ một hoặc nhiều bên cùng là thành viên của FTA đó. Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại nước thành viên, thường bao gồm các loại sau: - Cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng - Động vật sống - Sản phẩm thu được từ động vật sống - Sản phẩm thu được từ săn bắn, nuôi trồng, thu lượm - Khoáng sản và các chất sản sinh tự nhiên - Sản phẩm đánh bắt và các sản phẩm từ biển - Sản phẩm được chế biến hoặc được sản xuất ngay trên tàu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 - Sản phẩm khai thác từ đáy biển hoặc dưới đáy biển bên ngoài vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa - Phế thải và phế liệu có nguồn gốc từ quá trình sản xuất và tiêu dùng - Sản phẩm thu được hoặc được sản xuất từ các loại hàng hóa kể trên. Xuất xứ không thuần túy Hàng hoá có xuất xứ không thuần túy được coi là có xuất xứ khi đáp ứng các tiêu chí: Tiêu chí hàm lượng giá trị khu vực, tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hoá hoặc tiêu chí mặt hàng cụ thể.
Các nhà xuất khẩu hàng hoá được quyền lựa chọn sử dụng một trong các tiêu chí này để xác định xuất xứ hàng hoá, cụ thể: - Tiêu chí hàm lượng giá trị khu vực (RVC) Tùy từng hiệp định FTA sẽ quy định tỷ lệ hàm lượng giá trị khu vực khác nhau, tỷ lệ này được tính theo một trong hai phương pháp sau: Trong đó: - Chi phí nguyên liệu có xuất xứ: trị giá nguyên liệu, phụ tùng hoặc hàng hóa có xuất xứ do nhà sản xuất mua hoặc tự sản xuất. - Chi phí nhân công: gồm lương, thù lao và các khoản phúc lợi khác - Chi phí sản xuất: toàn bộ các chi phí chung được phân bổ trong quá trình sản xuất - Chi phí khác: chi phí phát sinh trong quá trình vận tải để xuất khẩu (chẳng hạn chi phí vận tải nội địa, chi phí lưu kho, bốc dỡ hàng tại cảng, phí mô giới, phí dịch vụ…) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 - FOB: Trị giá của hàng hóa sau khi được giao qua lan can tàu, bao gồm cả chi phí vận tải hàng hóa tới cảng hoặc địa điểm cuối cùng trước khi tàu chở hàng rời bến. - Chi phí nguyên vật liệu không có xuất xứ: (i) Giá CIF tại thời điểm nhập khẩu của hàng hoá hoặc thời điểm nhập khẩu được chứng minh; hoặc (ii) Giá xác định ban đầu trả cho hàng hoá không xác định được xuất xứ tại lãnh thổ của quốc gia thành viên nơi diễn ra hoạt động sản xuất hoặc chế biến. Ví dụ FTA Hoa Kỳ và Chile, một quy tắc xuất xứ quy định: “Chuyển đổi sang các tiểu mục từ 9403.80 từ bất kỳ mục nào khác; hoặc Chuyển đổi sang các tiểu mục từ 9403.80 từ bất kỳ tiểu mục nào khác, với điều kiện hàm lượng trị giá nội địa không thấp hơn: (a) 35% nếu sử dụng phương pháp trực tiếp tính hàm lượng;hoặc (b) 45% nếu sử dụng phương pháp gián tiếp tính hàm lượng.
Với quy tắc này, hàng hóa có mã HS từ 9403.80 được xem là “có xuất xứ” nếu hàng hóa đó: (a) được sản xuất từ nguyên liệu có mã HS nằm ngoài mục 9403; hoặc (b) được sản xuất từ nguyên liệu có mã HS nằm trong mục 9403 nhưng ngoài khoảng 9403.80 và thỏa mãn điều kiện trị giá nội địa/vùng không thấp hơn:35% nếu sử dụng phương pháp trực tiếp, 45% nếu sử dụng phương pháp gián tiếp. Giả thiết: Hàng hóa xuất khẩu từ Chile sang Hoa Kỳ là đồ gỗ nội thất A (có mã HS 9403.50) với nguyên liệu (mã HS 9403.90) nhập khẩu từ Mexicovà một số nguyên liệu khác từ Chile và Singapore. Trị giá (giá FOB) của đồ gỗ đó là 1000$ và phần gỗ nguyên liệu nhập khẩu từ Mexico phục vụ cho việc sản xuất ra đồ gỗ đó là 700$; gỗ trong nước là 100$; sơn phủ nhập khẩu từ Singapore là 150$. Áp dụng: Khi đó hàng đồ gỗ A xuất vào Hoa Kỳ sẽ được xem là “không có xuất xứ” (originating) và được không hưởng ưu đãi thuế quan theo FTA Hoa Kỳ và Chilevì: Thứ nhất, mặt hàng A không đáp ứng được điều kiện “có xuất xứ” do nguyên liệu và thành phẩm thuộc cùng mục 9403 (và vì vậy không có sự chuyển đổi dòng thuế như quy định); LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Thứ hai, mặt hàng A dù đáp ứng được điều kiện chuyển đổi dòng thuế (chuyển đổi từ một tiểu mục khác nằm trong nhóm) nhưng không đáp ứng được yêu cầu về hàm lượng trị giá nội địa: +Theo phương pháp trực tiếp: RVC = (100+150)x100%/1000 = 25% < 35% + Theo phương pháp gián tiếp: RVC= (1000-700)x100%/1000 = 30% < 45% - Tiêu chí chuyển đổi mã hàng hóa (Change in tariff heading – CTH) Tiêu chí CTH chỉ áp dụng đối với nguyên liệu không có xuất xứ.
Để đáp ứng tiêu chí này, nguyên liệu hoặc phụ tùng không có xuất xứ được sử dụng trong quá trình sản xuất ra hàng hóa phải khác mã số hàng hóa (mã HS) của sản phẩm cuối cùng. Hệ thống phân loại HS sử dụng từ 6 đến 10 con số để xác định hàng hóa. Sáu con số đầu tiên của một số HS được quy định hài hòa cho hầu hết tất cả các nước trên thế giới, trong đó hai số đầu tiên là tên chương HS (chapter), bốn số đầu tiên được gọi là mục (heading), ví dụ 1905, và sáu số đầu tiên được gọi là tiểu mục (sub- heading) ví dụ: 1905. Khi chuyển đổi mã số HS theo chương (2 chữ số), thường được gọi tắt là CTC hoặc CC – Change to chapter; chuyển đổi theo mục, hoặc nhóm (4 chữ số), là CTH – Change to heading; chuyển đổi theo tiểu mục, hoặc phân nhóm (6 chữ số) là CTSH – Change to subheading.Tiêu chí CTH được đưa ra nhằm đảm bảo các nguyên liệu không có xuất xứ trải qua công đoạn chuyển đổi trên lãnh thổ FTA để chứng minh hàng hóa được sản xuất trong lãnh thổ FTA.
Ví dụ: Quy tắc xuất xứ trong FTA ASEAN nêu: “Chuyển đổi sang các mục từ 19.05 từ bất kỳ Chương nào” ("A change to heading 19.05 from any other chapter.") Với quy tắc này, hàng hóa có mã HS từ 19.05 được xem là “có xuất xứ” nếu được sản xuất từ nguyên liệu có mã HS nằm ngoài Chương 19. Hàng xuất khẩu đi Hoa Kỳ là bánh bích quy (có mã HS 1905.90) được sản xuất tại Việt Nam từ bột mỳ của Trung Quốc (bột mỳ có mã HS thuộc Chương 11), tất cả các nguyên liệu còn lại đều là nguyên liệu trong nước (xuất xứ Việt Nam). Bánh bích quy xuất khẩu vào Hoa Kỳ sẽ được xem là “có xuất xứ” và được hưởng ưu đãi thuế quan theo TPP. Lý do là theo quy tắc xuất xứ ở trên thì đối với tất cả các sản phẩm nằm trong mã HS 19.05, để được xem là “có xuất xứ” và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 hưởng ưu đãi thuế quan theo TPP thì tất cả các nguyên liệu phải nằm trong một Chương HS khác không phải là Chương 19.
Bột mỳ thuộc Chương 11, tức là nằm ngoài Chương 19, và do đó đáp ứng yêu cầu về xuất xứ theo quy định nói trên. Trong trường hợp bánh bích quy xuất khẩu sang Hoa Kỳ, sản xuất ở Việt Nam từ bột trộn Trung Quốc có mã HS ở chương 19, tất cả các nguyên liệu còn lại đều là nguyên liệu trong nước (xuất xứ Việt Nam). Khi đó bánh bích quy xuất khẩu vào Hoa Kỳ sẽ được xem là “không có xuất xứ” và không được hưởng ưu đãi thuế quan theo TPP. - Tiêu chí mặt hàng cụ thể (PSR) Tùy vào từng hiệp định FTA sẽ quy định về quy tắc xuất xứ cụ thể cho một số mặt hàng nhất định.
Các quy tắc này quy định một quy trình hàng hóa cần phải trải qua để được coi là có xuất xứ. Ví dụ: Quy tắc 5 của FTA ASEAN – Hàn Quốc(AKFTA) quy định hàng hóa thỏa mãn quy tắc mặt hàng cụ thể quy định tại Phụ lục 2sẽ được coi là có xuất xứ tại lãnh thổ của bên nơi diễn ra quá trình gia công chế biến hàng hóa. Quy tắc này được hiểu là quy tắc duy nhất dùng để xác định xuất xứ của hàng hóa nằm trong Phụ lục 2 bởi bản thân Quy tắc 4 (hàng hóa có xuất xứ thuần túy) đã loại trừ những hàng hóa nêu tại Quy tắc 5 trong Phụ lục 2 này. Mặt hàng cua chế biến (16.10) nằm trong danh mục PSR (của AKFTA) có quy tắc xuất xứ là RVC 35% tính theo trị giá FOB (sau đây, mọi phần trăm đều được hiểu là tính theo trị giá FOB).