CHƯƠNG 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Huyện Trảng Bàng là một trong ba tam giác trọng điểm của tỉnh Tây Ninh: Thị xã – Trảng Bàng – Mộc Bài. Huyện nằm trong vùng kinh tế phát triển của Tỉnh Tây Ninh giáp với Thành Phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Trảng Bàng thu hút sự chú ý của nhiều chủ đầu tư trong và ngoài nước, có điều kiện thuận lợi để phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật như: hệ thống giao thông, các công trình cấp điện, cấp thoát nước … Tương lai, xuất hiện và hình thành nhiều đô thị, nhiều khu công nghiệp.
Như vậy, nhu cầu đất phục vụ cho việc xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, phục vụ cho việc đô thị hóa, công nghiệp hóa sẽ rất lớn. Trong những năm qua, nhờ đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà Nước đã, đang tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế huyện phát triển nhanh chóng, vững chắc và mạnh mẽ. Cùng với sự phát triển kinh tế kéo theo nó là các vấn đề môi trường diễn biến ngày càng phức tạp, có chiều hướng gia tăng nếu không được quản lý chặt chẽ. Để có nền kinh tế phát triển bền vững thì tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường.
Thực hiện công văn số 2062/STNMT-CCBVMT ngày 06/10/2011 của Sở Tài nguyên và Môi trường “về việc xây dựng kế hoạch hành động Quốc gia về bảo vệ môi trường giai đoạn 2011-2020, một số nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế – xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, UBND huyện Trảng Bàng đã đề ra các nhiệm vụ trọng tâm về tăng cường quản lý các nguồn tài nguyên và làm tốt công tác bảo vệ môi trường góp phần phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn giai đoạn 2011 – 2020 thực sự bền vững. Hiện nay, huyện Trảng Bàng chưa có nghiên cứu toàn diện nào về các vấn đề môi trường tiềm tàng trong bối cảnh đô thị hóa của huyện, quy hoạch chung của huyện Trảng Bàng chưa được tiến hành nghiên cứu đánh giá tác động môi trường, tuy trong bản quy hoạch chung có nêu một số vấn đề môi trường và vệ sinh đô thị nhưng ở mức sơ bộ. Trên cơ sở đó, việc thực hiện đề tài “Xây dựng cơ sở quy hoạch môi trường phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đến năm 2020 tầm nhìn 2030” là rất cần thiết, nhằm đảm bảo cho việc khai thác tối đa thế mạnh của huyện về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội cần phải xây dựng cơ sở để định hướng quy hoạch môi trường phù hợp với phương hướng phát triển của huyện. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Xây dựng cơ sở quy hoạch môi trường huy ện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đến năm 2020 tầm nhìn 2030 nhằm cung cấp cơ sở khoa học, thực tiễn để kế hoạch hóa các nhiệm vụ, dự án thành phần liên quan đến bảo vệ môi trường trên địa bàn Huyện.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Để đạt được các mục tiêu trên, luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung chính sau: - Tổng quan tài liệu bao gồm: + Cơ sở lý luận (Tổng quan về quy hoạch môi trường) + Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh + Hiện trạng tài nguyên và môi trường huyện Trảng Bàng + Công tác quản lý môi trường tại huyện Trảng Bàng + Tổng quan quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện Trảng Bàng đến năm 2020, tầm nhìn 2030 - Đánh giá hiện trạng và dự báo tác động môi trường do các hoạt động phát triển kinh tế xã hội huyện Trảng Bàng từ nay đến năm 2020, tầm nhìn 2030. - Xác định các vấn đề môi trường quan trọng cần giải quyết. - Xây dựng cơ sở QHMT huyện Trảng Bàng đến năm 2020, tầm nhìn 2030. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.
Đối tượng nghiên cứu Các tác động của hoạt động phát triển kinh tế xã hội đến chất lượng môi trường tại huyện Trảng Bàng. Địa điểm nghiên cứu Huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Thời gian nghiên cứu Từ ngày 25/09/2012 đến 25/12/2012 1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đề tài sẽ sử dụng các phương pháp thông dụng trong công tác quy hoạch môi trường nhằm thực hiện các nội dung nghiên cứu, cụ thể như sau: 2 - Phương pháp kế thừa: tiếp cận các nguồn tài liệu, số liệu hiện có từ các đề tài, các dự án có liên quan.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: thu thập các thông tin, cơ sở dữ liệu từ thực tế để phục vụ cho công tác xây dựng Quy hoạch môi trường của Huyện. - Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: được sử dụng để chọn lọc và sử dụng có hiệu quả những thông tin, số liệu hữu ích phục vụ cho quá trình lập quy hoạch. - Phương pháp Đánh giá tác động môi trường: sử dụng các kỹ thuật đánh giá tác động môi trường như lập bảng kiểm tra, phỏng đoán, để đánh giá một cách tổng hợp và đầy đủ các tác động môi trường do các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội mang lại. - Phương pháp dự báo: từ xu hướng, tốc độ phát triển ngành nghề, dân số, người lập quy hoạch sẽ xây dựng các kịch bản dự báo tải lượng các nguồn ô nhiễm tương ứng, phù hợp với từng giai đoạn phát triển hiện tại và tương lai.
- Phương pháp xác định thứ tự ưu tiên: được sử dụng nhằm xem xét mối quan hệ giữa các nhân tố môi trường bị ảnh hưởng bởi các hoạt động phát triển kinh tế xã hội của huyện. - Phương pháp tham vấn cộng đồng: thu thập các ý kiến đóng góp từ phía cộng đồng thông qua việc thẩm vấn các đối tượng có liên quan: cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể. - Phương pháp chuyên gia: Tham khảo các ý kiến của chuyên gia, cán bộ quản lý cấp địa phương để xây dựng quy hoạch môi trường chuyên ngành, đưa ra các giải pháp tổng hợp bảo vệ môi trường và đồng thời xây dựng kế hoạch hành động bảo vệ môi trường phù hợp với địa phương. Ý NGHĨA KHOA HỌC, THỰC TIỄN Ý nghĩa khoa học: Xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu về Quy hoạch môi trường nhằm phục vụ cho những nghiên cứu tiếp theo của huyện Trảng Bàng.
Nghiên cứu này có ý nghĩa th ực tiễn cao trong việc đề ra các giải pháp cụ thể và thiết thực giải quyết mâu thuẫn trong phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường đồng thời đề tài này giúp giải quyết các vấn đề cấp bách liên quan tới khai thác tài nguyên hợp lý phục vụ nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng. Khi đề tài được thực hiện sẽ giúp cho hệ thống quản lý môi tr ư ờng của huyện được hoàn chỉnh, hỗ trợ các nhà quản lý có chính sách sử dụng bền vững nguồn tài nguyên, hướng tới sự phát triển hài hòa giữa kinh tế xã hội và tài nguyên môi trường. TỔNG QUAN VỀ QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG 2. KHÁI NIỆM QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG 2.
Khái niệm Trong công tác quản lý nhà nư ớc nhằm bảo vệ môi trường, nhà nước thường sử dụng phối hợp nhiều công cụ khác nhau: các công cụ luật pháp – chính sách, công cụ kinh tế, kế hoạch hóa, đánh giá tác động môi trường, giám sát môi trường…Quy hoạch môi trường (QHMT) là một trong các công cụ then chốt trong công tác kế hoạch hóa hoạt động bảo vệ và quản lý môi trư ờng. Tuy nhiên, khái niệm QHMT thường được hiểu và diễn đạt theo nhiều cách khác nhau: - Theo Susan Buckingham – Hatfiel & Bob Evams (1962) QHMT có thể hiểu rất rộng là quá trình hình thành, đánh giá và thực hiện chính sách môi trường. - Ortolanto (1984) quan niệm rằng QHMT là một công việc hết sức phức tạp và để thực hiện QHMT phải sử dụng kiến thức liên ngành. Cũng theo Ortolanto nội dung của QHMT bao gồm sử dụng đất, quản lý chất tồn dư và kỹ thuật ĐTM.
- Khái niệm QHMT của tác giả Baldwin (1984) chỉ ra rằng việc khởi thảo và điều hành các hoạt động nhằm hướng dẫn, kiểm soát thu nhập, biến đổi, phân bổ và đổ thải một cách phù hợp với các hoạt động của con người sao cho các quá trình tự nhiên, sinh thái và xã hội tổn thất một cách ít nhất. - Anne Beer (1990) cho rằng QHMT phải là cơ sở cho tất cả các quyết định để phát triển có tính địa phương. - Theo ADB (1991) trong quy hoạch nhằm phát triển vùng, các thông số môi trường cần được đưa vào quy hoạch ngay từ đầu và sản phẩm cuối cùng là quy hoạch phát triển KTXH vùng với những cân nhắc cần thiết tới nhu cầu phát triển bền vững bằng cách nhất thể hóa với quản lý tài nguyên và môi trường. - Lê Thạc Cán (1994) sử dụng thuật ngữ “Lập kế hoạch môi trường” để chỉ việc lập kế hoạch, trong đó các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội được xem xét một cách tổng hợp với mục tiêu về môi trường nhằm đảm bảo khả năng thực tế cho việc thực hiện phát triển bền vững.
- Alan Gilpin (1996) cho rằng QHMT là “xác định các mục tiêu mong muốn về kinh tế xã hội đối với môi trường tự nhiên và tạo ra các chương trình, quy trình quản lý để đạt được mục tiêu đó”. Những vấn đề trong QHMT thành phố và quy hoạch môi trường vùng bao gồm: sử dụng đất, giao thông vận tải, lao động, sức khỏe, các trung tâm, thị xã, dân số, chính sách của nhà nước về định cư, các 4 vấn đề nhà ở, công nghiệp, phát triển đô thị, chính sách môi trường đối với quốc gia, vùng và đô thị, các vấn đề về ô nhiễm và ĐTM. - Toner (1996) cho rằng QHMT là việc ứng dụng các kiến thức về khoa học tự nhiên và sức khỏe trong các quyết định về sử dụng đất. - Malone – Lee Lao Choo (1997) cho rằng để giải quyết những xung đột về môi trường các phát triển cần thiết phải xây dựng hệ thống quy hoạch trên cơ sở những vấn đề môi trường.
- Bộ KHCN&MT – Việt Nam (1998) “QHMT là quá trình sử dụng có hệ thống các kiến thức khoa học để xây dựng các chính sách và biện pháp trong khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm định hướng các hoạt động phát triển trong khu vực, bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững”. Trong số các khái niệm trên thì khái niệm của Bộ Khoa học Công nghệ & Môi Trường dường như bao hàm đầy đủ các nội dung và phù hợp với các điều kiện tự nhiên ở Việt Nam.