Chương 1- Tổng quan về nghiên cứu quá trình Generative và Space Syntax trong công tác lập đồ án quy hoạch đô thị. Chương 2- Phương pháp nghiên cứu và cách thức giải quyết vấn đề Chương 3- Kết quả khảo sát thực tế tham chiếu với thuộc tính Generative và Space Syntax Chương 4- Đề xuất quy hoạch cấu trúc không gian đô thị Hội An và quá trình quy hoạch đô thị theo hướng phát triển bền vững. 7 CHƢƠNG 1 QUÁ TRÌNH GENERATIVE VÀ SPACE SYNTAX TRONG QUY HOẠCH ĐÔ THỊ 1. Quá trình Generative 1.
Các thành phần chính của quá trình Generative Quá trình Generative của Christopher Alexander nghiên cứu Tính toàn thể của đô thị. Khái niệm cái toàn thể, trường trung tâm và quá trình có liên quan với nhau. Các thành phần chính của quá trình generative gồm: a) Tính toàn thể: Quá trình Generative là một quá trình có sự tăng trưởng dần dần trong đó sự tiến hóa mang tính quá trình hay “sự phát triển hữu cơ” xảy ra, Alexander phát hiện sự nổi lên của một phẩm chất được gọi là “toàn thể” (Alexander et Alexander. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của quá trình này.
“Toàn thể” được xem như là “Sự sống” của cấu trúc. Khó để định nghĩa tính toàn thể, nếu dùng định nghĩa để diễn đạt tính toàn thể thì sẽ làm cho khả năng nhận thức về tính toàn thể bị hạn chế. Ở đây ta tạm hiểu cái toàn thể là một mối liên hệ toàn cục giữa cấu trúc với các thực thể khác trong khi duy trì một mức độ cao trật tự và gắn kết bên trong cấu trúc (Alexander 2002). Tính toàn thể là cái bao trùm lên toàn bộ cấu trúc, có ý nghĩa quan trọng trong các bước phát triển.
Như chúng ta thấy, các đô thị phát triển trên nền tảng từ các đô thị truyền thống đều toát lên một sức sống, một sức hấp dẫn mãnh liệt. Các không gian được xây dựng theo những quy luật đơn giản nhưng lại tạo ra một môi trường phong phú đa dạng. Quá trình phát triển đó mang tính tích hợp các cấu trúc cũ thích nghi với điều kiện mới; biến đổi cái toàn thể hiện tại (existing whole) thành một cái toàn thể mới (the new whole). Tính toàn thể là một cấu trúc toàn cục, chúng ta có thể dễ cảm nhận nhưng lại rất khó xác định cụ thể.
b) Trường trung tâm: Trong một cấu trúc toàn thể có các trường trung tâm. Trường trung tâm là một vùng không gian có quan hệ và được tổ chức, một dạng kiểu như trường lực tác động trong không gian. Trường trung tâm là hệ thống các đối tượng được xác định, nó chiếm một thể tích cụ thể trong không gian. Mỗi trường trung tâm được xác định bởi một đường biên, trường trung tâm có một mức độ đồng nhất bên trong và mức độ gắn kết.
Trường trung tâm có bốn đặc tính cơ bản: - Một trường trung tâm có sự sống. - Một trường trung tâm giúp các trường trung tâm khác. Có nghĩa là cái toàn thể của một trường trung tâm hỗ trợ cái toàn thể của các trường trung tâm khác. 8 - Các trường trung tâm được tạo nên bởi các trường trung tâm.
- Một cấu trúc có sự sống theo mật độ và cường độ của các trường trung tâm khác (được thành lập bên trong nó) “Sự sống” ở đây theo Alexander là những đặc điểm chủ chốt trong các cấu trúc không gian, tự nhiên hoặc nhân tạo có thể tăng cường được cảm xúc của con người. Thuật ngữ “toàn thể” cũng tương đương như thuật ngữ “sự sống”. c) Ngôn ngữ hình thức và ngôn ngữ kiểu mẫu: Tính toàn thể không thể định nghĩa đầy đủ, nhưng Alexander cho rằng có một cách để gợi ý, hướng dẫn chúng ta tăng cường được tính toàn thể, tăng cường “sự sống”, đó là các thuộc tính của ngôn ngữ hình thức và ngôn ngữ ngữ kiểu mẫu. - Ngôn ngữ kiểu mẫu: Kiến trúc và các thành phần đô thị được tạo nên bởi các kiểu mẫu.
Các kiểu mẫu được tổ chức trong một hệ thống vừa liên quan với nhau nhưng cũng vừa có tính tầng bậc, nhờ thế mà tạo ra sự kết nối vô hạn. Một tập hợp như vậy được gọi là một ngôn ngữ kiểu mẫu. Các kiểu mẫu trong đô thị có một mối liên hệ chéo với nhau do đó đô thị sẽ duy trình được tính trật tự và đa dạng. Các kiểu mẫu không phải là ý tưởng thiết kế tùy tiện mà phải được kiểm chứng, quan sát qua thực tế.
Số lượng kiểu mẫu được tạo nên và được phát hiện bởi mọi người trong quá trình xây dựng công trình hay môi trường sống của họ, ngôn ngữ kiểu mẫu có khả năng thích nghi tốt với điều kiện địa phương. Thiết lập một kiểu mẫu thường có các thành phần: Tên gọi kiểu mẫu, Hình minh họa kiểu mẫu, Liệt kê các kiểu mẫu trước (kiểu mẫu lớn bao trùm), Vấn đề gặp phải và nhiệm vụ kiểu mẫu cần giải quyết, Phân tích, Giải pháp (kèm hình ảnh minh họa), và các Kiểu mẫu theo sau (kiểu mẫu hỗ trợ cho kiểu mẫu chính). - Ngôn ngữ hình thức: Theo Alexander, để xây dựng một môi trường thực sự có sự sống, điều cốt yếu là phải có một thứ ngôn ngữ hợp tác với ngôn ngữ kiểu mẫu, đó là ngôn ngữ hình thức. Tác phẩm Một lý thuyết kiến trúc (A Theory of Architecture) (2008) của Nhà nghiên cứu Salingaros xác định ngôn ngữ hình thức như là “sự khái niệm hóa cụ thể và thực tế cái hình học và bề mặt của cấu trúc”.
Nói một cách đơn giản là tập hợp các quy tắc hình học chỉ đạo một kiểu kiến trúc. Mỗi một ngôn ngữ hình thức là sản phẩm của sự tiến hóa trong xây dựng và dựa vào hoàn cảnh địa phương để tạo nên hình thức. Theo Alexander, ngôn ngữ hình thức có mười lăm thuộc tính để biểu hiện. Những thuộc tính này là một chỉ số cho tính toàn thể, càng nhiều thuộc tính tồn tại trong một thành phần thì tính chất toàn thể của thành phần đó càng cao.
15 thuộc tính đó được Michael Mehaffy tóm tắt lại: 1- Các mức tỷ lệ (Levels of scale) : Cấu trúc của các trường trung tâm xảy ra ở 9 các cấu hình tương tự nhau ở những quy mô khác nhau, thường có những quy mô chênh lệch rất lớn. 2- Các trường trung tâm mạnh (Strong centers) : Một số trường trung tâm sẽ có vai trò quan trọng hơn các trung tâm khác và có thể hấp dẫn các trung tâm thứ cấp quanh nó. 3- Các đường ranh giới (Boundaries): Các trường trung tâm có thể hình thành các cấu trúc được liên kết bao bọc vòng quanh các trường trung tâm khác để hình thành đường ranh giới. 4- Sự lặp xen kẽ (Alternating Repetition): Các trung tâm có thể hình thành từng cặp xen kẽ lặp lại.
5- Không gian tích cực (Positive Space): Khi các cấu trúc của các trường trung tâm bao bọc nhau và chứa đựng không gian, không gian đó cũng hình thành một cấu trúc hiệu quả của các trường mà không hình thành các vùng chen chúc nhau, lãng phí và bất đối xứng. 6- Hình dạng đẹp (Good Shape): Đây là thuộc tính ngược với các thuộc tính ở trên: khi cấu trúc của các trường trung tâm hình thành một nhóm các trường trung tâm, các cấu trúc lớn hơn này có hiệu quả hơn vì không phải là những vùng chen chúc, lãng phí hay phi trật tự. 7- Đối xứng cục bộ (Local Symmetries): Trong khi cấu hình của các trường trung tâm ở quy mô lớn có thể là rất phi đối xứng, các vùng cục bộ thường hình thành các cụm rất đối xứng… 8- Đan xen chặt và sự nhập nhằng (Deep Interlock and Ambiguity): Các vùng lân cận có thể cài vào nhau theo một cách phụ thuộc, đến điểm mà sự mập mở của một hình thức trong mối quan hệ với hình thức khác. Một ví dụ rõ ràng là là ảo quanh quang học của một hình dạng có dạng cái bình, hoặc có thể được xem như là mặt nhìn bên của các hình thù khác nhau.
9- Sự tương phản (Contrast): Các vùng kề cận có thể không liên tục một cách đột ngột 10- Sự chuyển dần (Gradients). Các vùng kề cận có thể thể hiện một sự biến đổi dần dần giữa chúng với nhau. 11- Độ thô (Roughness): Một vùng có thể có một cấu trúc phức tạp ở quy mô nhỏ hơn trông có vẻ như hỗn độn hoặc “thô”: thực chất nó là một hình thức của cấu trúc được biến đổi ở quy mô nhỏ hơn. 10 13- Khoảng trống (The void): Một vùng có thể không có trường trung tâm bên trong.
14- Mộc mạc và tự tại (Simplicity and inner calm): Một vùng có thể chứa đựng một không ngờ rất ít trường trung tâm bên trong nó với tác động mạnh của nó lên người quan sát. 15- Không phân ly (Not-separateness). Mỗi vùng được kết nối tới các vùng khác bao gồm cả ngừoi quan sát và thế giới của họ, và cuối cùng tới cả vũ trụ. Thuộc tính không phân ly thể hiện mối liên hệ này đối với người quan sát, có thể khơi gợi một cảm giác sâu sắc khi đáp lại.
Như vậy ngôn ngữ kiểu mẫu hỗ trợ rất tốt cho các đô thị phát triển trên nền tảng các đô thị truyền thống. Các cấu trúc hình thể có tính gắn kết cao được sinh ra bởi cộng đồng phát triển qua các thời kỳ, nó sẽ phản ánh được kiến thức và văn hóa đặc trưng của họ. Ngôn ngữ kiểu mẫu luôn luôn thích ứng tốt với môi trường địa phương. Các thuộc tính của Alexander trong một ngôn ngữ hình thức có ích trong việc đánh giá hình thức kiến trúc.
Khi áp dụng trên phạm vi quy mô đô thị thì ngôn ngữ hình thức gặp những hạn chế, đặc biệt khi phân tích chuyển động trong thành phố. Một nghiên cứu khác của Kevin Lynch về các thành phần đô thị có thể bổ sung cho việc phân tích định hướng của con người trong đô thị. Các thành phần đô thị là cơ sở cho người dân “đọc” thành phố. Nhà nghiên cứu đô thị Kevin Lynch nêu ra năm thành phần đô thị như sau: - Đường đi (paths): là thành phần kết nối điểm xuất phát và điểm đến.
- Rìa (edges): phân biệt các đường biên - Nút (nodes): là các giao lộ và các trugn tâm hoạt động. - Điểm nhấn (landmarks): là các kiến trúc phục vụ như các điểm tham chiếu. - Vùng (districts): các khu vực được phân biệt rõ rệt. Phối hợp các phẩm chất của Lynch và các thuộc tính của Alexander sẽ cho phép chúng ta đánh giá hình thức đô thị với quy mô từ nhỏ đến lớn.
Quá trình Generative trong công tác quy hoạch đô thị Trong quá trình generative, trình tự của các bước có vai trò động lực cho quá trình hình thành các kiểu mẫu và thuộc tính.