Chương 1 KHÁI LUẬN VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY CỔ PHẦN 1. KHÁI QUÁT VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY 1. Khái niệm góp vốn thành lập công ty Theo Từ điển Luật học, góp vốn là việc nhà đầu tư đưa tài sản dưới các hình thức khác nhau vào doanh nghiệp để trở thành chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu doanh nghiệp [49, tr. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005: Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty.
Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp vốn tạo thành vốn của công ty [34, khoản 4 Điều 4]. Góp vốn cần được xem xét trên hai phương diện: kinh tế và pháp lý. Xét từ phương diện kinh tế, góp vốn là việc tạo ra tài sản cho công ty nhằm bảo đảm cho những chi phí trong hoạt động của công ty và bảo đảm quyền lợi cho các chủ nợ. Góp vốn vào công ty là điều kiện tiên quyết để cho ra đời một công ty.
Nếu không có sự tích tụ, tập trung tài sản với tính cách là các phần vốn góp thì: thứ nhất, công ty không có năng lực tài chính và do đó cũng không thể tự gánh vác nghĩa vụ; thứ hai, không góp vốn thì không thể đem lại lợi nhuận. Thực tế, sức mạnh tài chính của một công ty thông thường không chỉ căn cứ vào số vốn các cổ đông góp mà còn các khoản khác như lãi thu được, khoản vốn vay… Tuy nhiên, số vốn mà các thành viên hay các cổ đông góp vào công ty mới phản ánh khả năng tài chính thực sự của một công ty. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Còn xét từ phương diện pháp lý, góp vốn là hành vi chuyển giao tài sản hay đưa tài sản vào công ty để đổi lấy quyền lợi đối với công ty. Nhìn nhận góp vốn ở góc độ pháp lý, ta nhận thấy sự tồn tại của thỏa thuận góp vốn giữa các thành viên và bản thân hành vi góp vốn thành lập công ty.
Trong đó, thỏa thuận góp vốn là thỏa thuận giữa các thành viên xoay quanh vấn đề liên quan đến góp vốn. Nội dung của thỏa thuận góp vốn không chỉ liên quan đến vấn đề mỗi thành viên góp bao nhiêu phần vốn góp mà còn giải quyết rất nhiều vấn đề khác như tài sản góp vốn, quyền rút vốn, định giá vốn góp, phương thức giải quyết tranh chấp, chuyển nhượng vốn góp… Thỏa thuận góp vốn thành lập công ty là trường hợp các bên của thỏa thuận góp vốn đồng thời là những người đầu tiên tạo dựng ra các quyền lợi trong công ty. Có khi để thành lập một công ty, các thành viên chỉ cần thống nhất với nhau thông qua thỏa thuận miệng; tuy nhiên điều này không phủ nhận rằng bất kỳ việc góp vốn thành lập công ty như thế nào, không phụ thuộc vào số vốn góp và số người tham gia, ta thấy phía sau nó là một quan hệ hợp đồng xoay quanh vấn đề góp vốn. Mục tiêu của thỏa thuận góp vốn thành lập công ty không chỉ là sự ra đời của một công ty mà còn giải quyết các vấn đề có tính nền tảng cho sự tồn tại, vận hành và phát triển của công ty đó sau này.
Ngoài ra, khái niệm góp vốn thành lập công ty còn được xem xét với tư cách là hành vi pháp lý. Theo đó, góp vốn là hành vi pháp lý đa phương, chỉ việc đưa tài sản vào công ty để đổi lấy một quyền lợi đối với công ty; bởi vì nó xuất phát từ thỏa thuận góp vốn giữa các thành viên. Một người chỉ có thể thực hiện hành vi góp vốn sau khi đã đạt được thỏa thuận về việc góp vốn với các thành viên khác. Mục đích của hành vi góp vốn là một quyền lợi nào đó đối với công ty.
Bản chất pháp lý của góp vốn thành lập công ty Góp vốn thành lập công ty là một hành vi chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền hưởng dụng tài sản. Khi tài sản được sử dụng làm vốn góp vào 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công ty thì quyền sở hữu hoặc quyền hưởng dụng của người góp vốn được chuyển sang cho công ty. Theo đó, quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản góp vốn được xác lập cho công ty theo quy định của pháp luật. Việc góp vốn vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty thực chất là hành vi đầu tư vốn để kinh doanh và nhằm mục đích kiếm lợi nhuận.
Do đó, quyền được chia lợi nhuận là một quyền lợi quan trọng của thành viên công ty. Như vậy, để nhận diện một hành vi góp vốn cần dựa trên ba yếu tố: một là, có sự chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền hưởng dụng tài sản cho công ty; hai là, người góp vốn có mong muốn trở thành thành viên của công ty; ba là, mục tiêu của người góp vốn là một quyền lợi đối với công ty. Trong đó, mục tiêu đổi lại một quyền lợi đối với công ty là căn cứ quan trọng nhất để phân biệt hành vi góp vốn với các hành vi thương mại khác như việc bán, cho thuê một tài sản nào đó cho công ty hoặc nhượng quyền thương mại, tặng cho tài sản. Để thấy rõ được bản chất của hành vi góp vốn thành lập công ty tôi xin so sánh hành vi góp vốn với một số hành vi thương mại khác như bán cho công ty một tài sản, nhượng quyền thương mại cho công ty.
Phân biệt góp vốn thành lập công ty cổ phần với bán một tài sản cho công ty: Trong quan hệ mua bán tài sản giữa bên bán với bên mua là một công ty, có tồn tại việc đưa tài sản vào công ty. Bởi vì thông qua một thỏa thuận mua bán tài sản thì tồn tại nghĩa vụ của bên bán phải đưa tài sản vào trong công ty. Tuy nhiên, trong quan hệ này thì bên bán tài sản không hề có ý định gánh vác các nghĩa vụ tài sản đối với các khoản nợ của công ty hay nói chính xác hơn bên bán không muốn trở thành cổ đông của công ty. Khi đã chuyển giao tài sản vào công ty, bên bán đoạn tuyệt quyền sở hữu đối với tài sản đã chuyển giao.
Và đổi lại cho việc chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản mua bán thì bên bán mong muốn nhận được không phải là một quyền lợi đối với công ty mà là một khoản giá trị đối ứng với nghĩa vụ chuyển giao tài 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sản vào công ty. Công ty lúc đó có nghĩa vụ chuyển giao lại cho bên bán một khoản giá trị tương ứng. Ví dụ: A bán cho công ty cổ phần Z một chiếc xe ô tô con với giá là 700 triệu đồng, khi đó A có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu chiếc xe ô tô này cho công ty Z và ngược lại công ty có nghĩa vụ thanh toán cho A khoản tiền là 700 triệu đồng như thỏa thuận. Bất kể công ty làm ăn thua lỗ hay thành công thì A cũng chỉ nhận được khoản tiền là 700 triệu đồng mà thôi.
Và đồng thời anh ta cũng không phải chịu nghĩa vụ nào với chủ nợ của công ty. Điều này chứng tỏ A không có một quyền lợi nào (quyền tài chính hay quyền điều hành) đối với công ty mà chỉ có thể yêu cầu công ty Z thực hiện nghĩa vụ thanh toán như đã thỏa thuận. Phân biệt góp vốn thành lập công ty với nhượng quyền thương mại cho công ty: Nhượng quyền thương mại là trường hợp bên nhượng quyền (franchiser) cấp cho bên nhận nhượng quyền (franchisee) quyền sử dụng đối với tài sản trí tuệ, ví dụ như quyền sử dụng thương hiệu, bí mật kinh doanh, công nghệ, tên thương mại… Ta thấy, giữa hành vi góp vốn thành lập công ty và hành vi cấp nhượng quyền có một số điểm gây nhầm lẫn. Thứ nhất, trong hoạt động nhượng quyền, bên nhượng quyền cũng đưa tài sản mà cụ thể ở đây là quyền sử dụng tài sản trí tuệ vào công ty - bên nhận nhượng quyền.
Thứ hai, bên nhượng quyền cũng được nhận một khoản phí nhượng quyền bao gồm chi phí cố định và một loại phí tính trên cơ sở lợi nhuận mà công ty thu được từ hoạt động nhượng quyền. Thứ ba, bên nhượng quyền cũng có thể áp đặt một số quy tắc về hoạt động của công ty nhận nhượng quyền về các vấn đề như phương thức kinh doanh, nguyên tắc kế toán, các điều khoản chống cạnh tranh, bảo mật thông tin… Tuy nhiên, nhượng quyền thương mại không phải là hành vi góp vốn vì ba lý do sau: + Bên nhượng quyền không phải là cổ đông của công ty; + Khoản phí tính theo lợi nhuận mà bên nhượng quyền nhận được không vượt ra ngoài phạm vi số lợi nhuận có được từ hoạt động nhượng quyền; 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Những quy tắc kinh doanh mà bên nhượng quyền có thể áp đặt cho phía công ty nhận nhượng quyền chỉ giới hạn trong phạm vi của hợp đồng nhượng quyền chứ không phải các quy tắc áp đặt cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của bên nhận nhượng quyền. Bằng việc so sánh góp vốn thành lập công ty với các hành vi khác dễ gây nhầm lẫn, một lần nữa ta đã làm rõ hơn bản chất của hành vi góp vốn thành lập công ty. Như vậy, bản chất của hành vi góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để đổi lấy quyền lợi đối với công ty.
GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái quát về công ty cổ phần 1. Khái niệm công ty cổ phần Ở các nước khác nhau, công ty cổ phần có thể có những tên gọi khác nhau.