MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngành điện Việt Nam là ngành có tầm quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Chiến lược phát triển ngành điện Việt Nam giai đoạn 2004-2010, định hướng đến năm 2020 của Chính phủ đã chỉ rõ: “Phát triển điện phải đi trước một bước để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng nhu cầu điện cho sinh hoạt của nhân dân; đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Đẩy mạnh điện khí hoá nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo”.
Không những vậy, ngày 21/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 1208/QĐ-TTG về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030. Theo đó, phát triển ngành điện phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bảo đảm cung cấp đủ điện cho nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội. Theo quy hoạch ngành điện, Việt Nam sẽ từng bước hình thành, phát triển thị trường điện cạnh tranh, đa dạng hóa phương thức đầu tư và kinh doanh điện, từng bước nâng cao chất lượng điện năng để cung cấp dịch vụ điện năng với chất lượng ngày càng cao tiến tới thực hiện giá bán điện theo kinh tế thị trường nhằm khuyến khích đầu tư phát triển vào ngành điện và khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả. Trong nền kinh tế thị trường, các DN muốn tồn tại và phát triển, ngoài việc cần phải xác định được một chiến lược kinh doanh đúng đắn, quản lý tổ chức tốt chính sách nguồn nhân lực, tìm kiếm các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thì nhất thiết cần phải tổ chức tốt hoạt động về cơ cấu nguồn vốn.
Quyết định về cơ cấu nguồn vốn là một trong các quyết định rất quan trọng đối với hoạt động tài chính DN bởi vì đây là quyết định có tác động trực tiếp đến rủi ro tài chính DN, tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu, chi phí sử dụng vốn bình quân và giá trị DN. Bởi vậy, việc nghiên cứu và xác lập cơ cấu nguồn vốn mục tiêu của DN là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu được đặt ra không những đối với các nhà quản trị DN mà còn đối với các nhà nghiên cứu về lĩnh vực tài chính DN. Hiện nay trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện có 16 công ty cổ phần ngành điện niêm yết đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất điện năng bao gồm 12 công ty cổ phần Thuỷ điện và 4 công ty cổ phần Nhiệt điện. Đây là những DN tiên phong và mở đường cho việc xây dựng một thị trường điện cạnh tranh theo chủ trương của Nhà nước nhằm từng bước cung cấp hàng hoá điện năng theo cơ chế thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế và là cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
Tuy nhiên, những DN này hiện đang bộc lộ những tồn tại về cơ cấu nguồn vốn mà đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện như: các DN chưa phát huy vai trò tích cực của đòn bẩy tài chính trong hoạt động kinh doanh, các DN chưa xây dựng cơ cấu nguồn vốn mục tiêu nhằm gia tăng giá trị DN, các khoản nợ vay nước ngoài hiện chịu rủi ro về tỷ giá, mức độ tiếp cận và đa dạng hoá nguồn vốn huy động của các DN còn thấp và chịu ảnh hưởng bởi quy mô hoạt động, năng lực tài trợ thấp, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Cơ cấu nguồn vốn của các công ty cổ phần ngành điện niêm yết” làm đề tài nghiên cứu cho đối với trình độ tiến sĩ của mình. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2. Những nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp (1) Luận án Tiến sĩ: “Đổi mới cơ cấu vốn các DN Nhà nước Việt Nam hiện nay” năm 2006 – Tác giả Trần Thị Thanh Tú Luận án đã kiểm chứng các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn của 375 DN Nhà nước trong giai đoạn 2001-2005 với dữ liệu thu thập từ Bộ 2 Tài chính.
Mô hình kinh tế lượng của tác giả cho thấy được sự ảnh hưởng của các nhân tố lãi vay, tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu, cơ cấu tài sản và yếu tố ngành đến cơ cấu nguồn vốn của các DN. Luận án đề xuất bổ sung thêm một số biến để hoàn thiện nghiên cứu bao gồm: trình độ của giám đốc, sự ưa thích nợ của giám đốc, hệ số rủi ro ngành, thuế suất thuế thu nhập DN. (2) Luận án Tiến sĩ: “Nghiên cứu các nhân tố tác động đến cơ cấu vốn của các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” năm 2014 – Tác giả Dương Thị Hồng Vân [19] Luận án sử dụng dữ liệu thứ cấp đối với các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam và dữ liệu sơ cấp từ điều tra khảo sát chính sách tài chính DN năm 2013. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiện các DN trong mẫu nghiên cứu sử dụng nợ ngắn hạn với tỷ trọng và quy mô cao nên tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với khả năng thanh toán và rủi ro tài chính.
Vai trò của các khoản nợ vay dài hạn đối với các dự án đầu tư còn hạn chế; vấn đề bất cân xứng thông tin giữa chủ sở hữu và chủ nợ có ảnh hưởng lớn đến chính sách tài trợ vốn của DN. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng do có những hạn chế nhất định về cơ cấu kinh tế Việt Nam và trình độ phát triển chưa tương xứng của thị trường chứng khoán Việt Nam mà các lý thuyết về cơ cấu nguồn vốn chưa giải thích được hoàn toàn. (3) Bài báo khoa học “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn các DN vừa và nhỏ ở Việt Nam” năm 2006 – Tác giả Trần Đình Khôi Nguyên [3] Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu của 558 DN nhỏ và vừa có dưới 300 người lao động và quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng trong giai đoạn 1998- 2001 để xác định các yếu tố xác định hệ số nợ, hệ số nợ ngắn hạn và hệ số nợ vay không bao gồm tín dụng ngân hàng. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ các vấn đề sau: (1) Hệ số nợ bình quân của các DN vừa và nhỏ ở Việt Nam khoảng 43%; (2) Các DN tăng trưởng cao hay rủi ro kinh doanh lớn có hệ số nợ cao hơn; hệ số nợ và 3 tài sản cố định tưomg quan ngược chiều nhau; và khả năng sinh lời không ảnh hưởng tới cơ cấu nguồn vốn của các DN.
(4) Bài báo khoa học “Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn và hiệu quả hoạt động tài chính: tiếp cận theo phương pháp đường dẫn” năm 2010 – Tác giả Đoàn Ngọc Phi Anh [1] Nghiên cứu đã sử dụng số liệu từ của 428 CTCP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Bằng việc sử dụng phương pháp phân tích đường dẫn (path analysis), nghiên cứu chỉ ra những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn như: hiệu quả kinh doanh; rủi ro kinh doanh; cấu trúc tài sản và quy mô DN. (5) Bài báo khoa học “Ảnh hưởng của cấu trúc vốn, quy mô, tăng trưởng doanh thu tới hiệu quả hoạt động các công ty Thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” năm 2013 – Tác giả Nguyễn Văn Duy [17] Nghiên cứu đã đưa ra nhận định có mối quan hệ tích cực giữa nợ ngắn hạn vào hiệu quả hoạt động của DN và việc đánh giá tác động của cấu trúc vốn lên hiệu quả hoạt động là vô cùng quan trọng đối với các DN. Nghiên cứu này nhằm tìm ra ảnh hưởng của các yếu tố cấu trúc vốn, quy mô, tăng trưởng doanh thu tới hiệu quả hoạt động của các CTCP Thuỷ sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2008-2013 được đại diện bởi chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE).
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng đã chỉ ra trong 4 yếu tố nghiên cứu chỉ có tỷ lệ nợ ngắn hạn có ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các công ty, các nhân tố về tỷ lệ nợ dài hạn, quy mô và tăng trưởng công ty đều không có tác động lên ROE ở mức ý nghĩa thống kê 5%. Các DN nghiên cứu là những CTCP phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán bao gồm: 294 DN Thái Lan; 559 DN Malaysia; 345 DN Singapore và 219 DN Úc. Bằng việc sử dụng mô hình hồi quy Pool- OLS và sử dụng dữ liệu bảng (Panel data) để đánh giá sự tác động của 6 biến độc lập bao gồm: (1) Tỷ lệ Tài sản hữu hình trên tổng tài sản; (2) Quy mô lợi nhuận sau thuế; (3) Quy mô DN; (4) Lá chắn thuế phi nợ; (5) Hệ số thanh khoản; (5) Biến động của doanh thu thuần với biến phụ thuộc là đòn bẩy tài chính. Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ cấu nguồn vốn DN đều chịu ảnh hưởng của các nhân tố trên.
(7) Nghiên cứu “Determinants of capital structure of Chinese-listed companies” năm 2004 – Tác giả Chen [21] về đánh giá tác động của các nhân tố vi mô đến cơ cấu nguồn vốn của các CTCP niêm yết trên thị trường chứng khoán Trung Quốc giai đoạn 1995-2000. Bằng việc sử dụng mô hình kinh tế lượng với dữ liệu bảng và áp dụng mô hình đánh đổi và mô hình trật tự phân hạng đã được kiểm chứng ở các nước phát triển, Chen đã kết luận rằng quyết định cơ cấu nguồn vốn của các CTCP niêm yết trên TTCK Trung Quốc tuân theo mô hình “Trật tự phân hạng mới” do xuất phát từ đặc thù thể chế pháp luật và những rào cản tài chính từ lĩnh vực ngân hàng và trật tự đó tuân theo thứ tự như sau: Lợi nhuận giữ lại; phát hành cổ phiếu; vay nợ dài hạn. (8) Nghiên cứu “The Determinants of Capital Structure in Transitional Economies” năm 2007- Tác giả Delcoure [22] về các nhân tố tác động đến cơ cấu nguồn vốn đối với các DN hoạt động tại 4 quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu bao gồm: Cộng hoà Séc; Ba Lan; Nga và Slovakia.