Chương 1. Những vấn đề lý luận về quy chế pháp lý của Hội nghị chủ nợ trong thủ tục phá sản. Thực trạng quy chế pháp lý của Hội nghị chủ nợ và thực tiễn áp dụng Chương 3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy chế pháp lý về Hội nghị chủ nợ trong pháp luật phá sản Việt Nam hiện nay.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA HỘI NGHỊ CHỦ NỢ TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN 1. Bản chất của thủ tục phá sản và vai trò của chủ nợ trong thủ tục phá sản 1. Bản chất của thủ tục phá sản Thuật ngữ “Phá sản” thường được sử dụng để chỉ những chủ thể bị lâm vào tình trạng hỗn loạn về tài chính và không còn khả năng thanh toán các khoản nợ.
Có nhiều mức độ phá sản khác nhau, bao gồm từ tình trạng bị mất khả năng thanh toán tạm thời cho đến những trường hợp chấm dứt sự hoạt động của doanh nghiệp với tư cách một thực thể kinh doanh. Khi một doanh nghiệp phá sản sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ tới nhiều nhóm lợi ích trong nền kinh tế. Về mặt kinh tế: Một doanh nghiệp bị phá sản trong điều kiện ngày nay có thể dẫn đến những tác động tiêu cực. Khi quy mô của doanh nghiệp phá sản càng lớn, tham gia vào quá trình phân công lao động của ngành nghề đó càng sâu và rộng, số lượng bạn hàng ngày càng đông, thì sự phá sản của nó có thể dẫn đến sự phá sản hàng loạt của các doanh nghiệp bạn hàng theo "hiệu ứng domino" - phá sản dây chuyền.
Về mặt xã hội: Phá sản doanh nghiệp để lại những hậu quả tiêu cực nhất định về mặt xã hội bởi nó làm tăng số lượng người thất nghiệp, làm cho sức ép về việc làm ngày càng lớn và có thể làm nảy sinh các tệ nạn xã hội, thậm chí các tội phạm. Về mặt chính trị: Phá sản dây chuyền sẽ dẫn tới sự suy thoái và khủng hoảng nền kinh tế quốc gia, thậm chí khủng hoảng kinh tế khu vực và đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những khủng hoảng sâu sắc về chính trị. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, xét ở ba khía cạnh trên, phá sản với tính cách là một hiện tượng xã hội tiêu cực cần được hạn chế và ngăn chặn đến mức tối đa. Để hạn chế các tác động tiêu cực, phá sản cần phải được coi là sự lựa chọn cuối cùng và duy nhất của chính phủ đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
Yêu cầu này cần phải được thể hiện một cách nhất quán trong pháp luật phá sản qua các nội dung như: tiêu chí xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, vấn đề hồi phục doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, thứ tự ưu tiên thanh toán các khoản nợ khi tuyên bố phá sản… Do vậy Luật Phá sản hiện đại cần xây dựng một cơ chế điều tiết linh hoạt, đảm bảo lợi ích cho các chủ thể có liên quan. Một đạo Luật Phá sản hiện đại thường hướng đến rất nhiều mục tiêu điều chỉnh khác nhau, là công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nhiều loại chủ thể khác nhau từ chủ nợ, con nợ cho tới người lao động và đồng thời cũng là một công cụ hiệu quả trong điều tiết kinh tế. “Khác với thủ tục giải quyết một vụ kiện dân sự (tố tụng dân sự), thủ tục giải quyết phá sản làm một loại tố tụng tư pháp đặc biệt. Do tính chất đặc biệt này nên trong pháp luật tố tụng các nước, thủ tục phá sản bao giờ cũng được điều chỉnh bởi một hệ thống văn bản pháp luật riêng biệt.
Tính chất đặc biệt của thủ tục phá sản được thể hiện ở những điểm như sau: Thứ nhất, thủ tục phá sản là một thủ tục đòi nợ tập thể. Khác với thủ tục đòi nợ thông thường, thủ tục phá sản tiến hành việc đòi nợ và thanh toán nợ một cách tập thể. Trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản, các chủ nợ không thể tự xé lẻ để đòi nợ riêng, mà tất cả phải tập hợp lại thành một chủ thể pháp lý duy nhất được gọi là Hội nghị chủ nợ. Hội nghị chủ nợ đại diện cho tất cả các chủ nợ để tham gia vào việc giải quyết phá sản.
Khi bị áp dụng thủ tục thanh lý thì toàn bộ tài sản của con nợ được đưa vào một quỹ chung dùng để trả lại cho các chủ nợ theo một thứ tự ưu 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiên nhất định đã được pháp luật phá sản quy định. Nếu tài sản của con nợ không đủ để thanh toán tất cả các khoản nợ thì các chủ nợ được thanh toán theo tỷ lệ giữa khoản nợ mà doanh nghiệp phá sản còn thiếu với số tài sản còn lại của doanh nghiệp. Thứ hai, thủ tục phá sản là thủ tục đòi nợ được tiến hành trong một hoàn cảnh đặc biệt, như một biện pháp cuối cùng của quá trình đòi nợ. Nếu như thủ tục đòi nợ thông thường (đòi nợ thông qua việc khiếu kiện ra Tòa án) có thể được tiến hành bất cứ lúc nào thì thủ tục phá sản chỉ được áp dụng khi doanh nghiệp mặc nợ đã lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, không còn lối thoát mà người ta thường gọi là tình trạng phá sản.
Nói cách khác, thủ tục phá sản là thủ tục pháp lý không dễ xảy ra, nó chỉ xuất hiện như một giải pháp cuối cùng mà các chủ nợ phải sử dụng để đòi nợ khi mà các phương thức đòi nợ thông thường không thể thực hiện được. Thứ ba, thủ tục phá sản là thủ tục mà hậu quả của nó thường là sự chấm dứt hoạt động của một thương nhân. Trong tố tụng dân sự, sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, con nợ đương nhiên có nghĩa vụ phải chấp hành. Sau khi trả nợ xong, con nợ vẫn tồn tại và hoạt động một cách bình thường.
Đây là điểm khác biệt so với tố tụng phá sản. Trong tố tụng phá sản, để giúp các chủ nợ thu hồi được các món nợ của mình, Tòa án phải ra những quyết định pháp lý đặc biệt như quyết định áp dụng thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp (thực chất là quyết định nhằm chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp) để trả cho các chủ nợ. Nói cách khác, kết quả của thủ tục phá sản thường dẫn đến sự chấm dứt hoạt động của chính bản thân con nợ rồi nhân cơ hội đó mà bán toàn bộ tài sản để trả cho các chủ nợ. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ tư, thủ tục phá sản không chỉ thuần túy là một thủ tục đòi nợ mà còn là một thủ tục có khả năng giúp con nợ phục hồi.
Mặc dù thủ tục phá sản thực chất là một thủ thủ tục đòi nợ tập thể nhưng điều đó không có nghĩa là, khi một con nợ bị mở thủ tục phá sản thì ngay lập tức tài sản của doanh nghiệp sẽ bị dùng để thanh toán cho các chủ nợ. Hiện nay, ngoài mục tiêu thanh lý, pháp luật phá sản có nhiều nước trên thế giới còn đặt thêm một mục tiêu rất quan trọng, đó là giúp con nợ phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Việc tuyên bố phá sản một doanh nghiệp sẽ không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân các chủ nợ, con nợ, người lao động mà còn kéo theo nhiều hậu quả bất lợi cho xã hội. Trong thủ tục phá sản, con nợ được Tòa án tạo điều kiện tối đa cho việc phục hồi hoạt động kinh doanh.
Một trong những biện pháp để giúp con nợ thoát khỏi tình trạng phá sản là việc pháp luật cho phép con nợ được chủ động xây dựng phương án hòa giải và giải pháp tổ chức lại hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Kế hoạch này sẽ được trình lên Hội nghị chủ nợ, nếu được thông qua thì về cơ bản, doanh nghiệp đó được khôi phục lại vị trí pháp lý ban đầu, tiếp tục hoạt động kinh doanh một cách bình thường [42]. Phá sản là hiện tượng kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường mà hậu quả của nó là sự xung đột lợi ích của các bên tham gia quan hệ kinh doanh. Phá sản không chỉ là sự xung đột lợi ích giữa con nợ mất khả năng thanh toán với các chủ nợ của nó mà còn dẫn đến sự xung đột với lợi ích của tập thể người lao động làm việc tại cơ sở của con nợ, đến lợi ích chung của xã hội, đến tình hình trật tự trị an tại một địa phương, vùng lãnh thổ nhất định nào đó.
Trên thế giới, pháp luật phá sản có hai xu hướng khác nhau. Xu hướng thứ nhất có mục tiêu là “hướng vào con nợ” nhằm tập trung giải cứu 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các con nợ thoát khỏi tình trạng khó khăn về tài chính, bảo đảm việc làm cho người lao động, tránh bất ổn kinh tế thông qua việc tổ chức lại con nợ. Xu hướng thứ hai có mục tiêu “hướng vào chủ nợ” bằng cách tạo điều kiện cho các chủ nợ cùng nhau sai áp đối với phần sản nghiệp còn lại của con nợ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây dường như đã có sự kết hợp cả hai mục tiêu này theo hướng nghiêng về mục tiêu “hướng vào con nợ”, vì người ta nhận thấy rằng tạo điều kiện cho sự tiếp tục tồn tại của con nợ sẽ có lợi hơn cho nền kinh tế trong tình trạng thất nghiệp cao.
Trong nền kinh tế thị trường, việc doanh nghiệp phá sản là điều khó tránh khỏi, đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước vào hiện tượng này nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực và khai thác những mặt tích cực của nó. Thông qua pháp luật phá sản, Nhà nước có thể can thiệp vào quá trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp một cách năng động và mềm dẻo. Để đảm bảo điều đó, thủ tục phá sản cũng phải linh hoạt, mềm dẻo trong việc điều tiết hiệu quả mối quan hệ về lợi ích giữa các chủ nợ và con nợ nhằm đạt được các chức năng điều chỉnh của mình.