Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI GÂY NHẦM LẪN 1. Khái quát về quảng cáo thương mại và quảng cáo thương mại gây nhầm lẫn 1. Quảng cáo thương mại Quảng cáo nói chung hiện nay là một hoạt động hết sức phổ biến. Tuy nhiên hiện nay có nhiều khái niệm quảng cáo được đưa ra, các khái niệm này được nhìn nhận dựa trên các góc độ tiếp cận khác nhau.
Theo cách tiếp cận về mặt xã hội học, quảng cáo là quá trình truyền tin có định hướng tới người mua để kích thích họ hành động mua sản phẩm và dịch vụ mà quảng cáo đã giới thiệu và đề xuất; Theo cách tiếp cận của kinh tế học, quảng cáo là cách trình bày cho đông đảo khách hàng có được những hiểu biết cần thiết về hàng hoá, dịch vụ và uy thế của doanh nghiệp bằng các phương tiện thông tin đại chúng; Còn ở cách tiếp cận về mặt hành vi thì quảng cáo là việc sử dụng phương tiện thông tin để truyền tin về sản phẩm dịch vụ tới các phần tử trung gian hoặc tới các khách hàng cuối cùng trong một khoảng thời gian và không gian nhất định. Các cách tiếp cận nêu trên có những điểm khác nhau nhưng nhìn chung cách tiếp nào cũng khẳng định quảng cáo có bản chất thông tin và bản chất thương mại. Theo Pháp lệnh số 82-280 ngày 23/7/1992 về tự do thông thương của Cộng hòa Pháp đã ghi nhận những nguyên tắc chung về chế độ áp dụng cho quảng cáo và tài trợ có quy định “Mọi loại thông tin truyền hình phát có thu tiền hoặc đổi bù nhằm quảng bá cho việc cung cấp sản phẩm hay dịch vụ, kể cả thông tin được giới thiệu dưới dạng tên gọi chung trong khuôn khổ một hoạt động thương mại, công nghiệp, thủ công hay nghề nghiệp tự do, hay nhằm đảm bảo quảng cáo cho một doanh nghiệp nhà nước hoặc tư nhân đều được coi là quảng cáo”; Theo Điều 2 Luật Quảng cáo của Trung Quốc ban hành ngày 9 27/10/1994 (có hiệu lực từ ngày 01/02/1995) thì: “Quảng cáo được hiểu là một quảng cáo mang tính chất thương mại mà người cung cấp hàng hóa, dịch vụ, giới thiệu cho hàng hóa dịch vụ của mình, cho dù là trực tiếp hay gián tiếp, thông qua các thông tin công cộng”; Theo Điều 1 Chỉ thị số 84/450/EEC ngày 10/9/1984 của Hội đồng Châu Âu liên quan đến quảng cáo gây nhầm lẫn và quảng cáo so sánh hiểu quảng cáo là “đưa ra sự tuyên bố dưới bất cứ hình thức nào liên quan đến hoạt động thương mại, kinh doanh, nghề thủ công, nghề chuyên nghiệp nhằm xúc tiến việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ; bao gồm cả bất động sản, quyền và nghĩa vụ”; Theo Điều 18 Chỉ thị 97/360 CE của Hội đồng Châu Âu cũng nêu rõ “Quảng cáo không bao gồm các thông tin do cơ quan phát thanh phát có liên quan tới chương trình của cơ quan và các sản phẩm phụ trực tiếp của các chương trình này; các thông tin về dịch vụ công cộng và các lời kêu gọi cho việc làm từ thiện miễn phí” [1, tr. Còn ở Việt Nam hiện nay, khái niệm “quảng cáo” có trong hai văn bản là Luật Thương mại 2005 và Luật Quảng cáo 2012.
Theo Luật Thương mại năm 2005, khái niệm quảng cáo ở đây được gắn liền với tính chất thương mại và được gọi với thuật ngữ pháp lý “quảng cáo thương mại”, khái niệm này được hiểu là: “hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình” (Điều 102) [16]. Theo Luật Quảng cáo 2012 quảng cáo được giải thích là: “việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân” (Khoản 1 Điều 2) [18]. Như vậy, pháp luật Việt Nam thừa nhận sự tồn tại của hai hình thức quảng cáo không có mục đích sinh lời và quảng cáo có mục đích sinh lời, trong đó đối tượng thứ hai còn được gọi là “quảng cáo thương mại”. Tuy nhiên, tác giả nghiêng về phía quan điểm gắn quảng cáo với thương mại và cho rằng bản chất thương mại 10 của quảng cáo ngày càng được thể hiện rõ hơn trong nền kinh tế xã hội hiện đại, trên những phương diện sau: - Xét về mặt kinh tế, quảng cáo thương mại là động lực duy trì và phát triển toàn bộ hoạt động quảng cáo trong suốt quá trình lịch sử.
Với chi phí thực hiện quảng cáo ngày một lớn, chỉ có các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mới có khả năng bỏ ra các khoản tiền lớn cho quảng cáo, và họ cũng chỉ sẵn sàng làm việc này khi biết rằng hiệu quả quảng cáo sẽ tăng doanh số bán hàng hoá dịch vụ của họ, không những giúp bù đắp chi phí quảng cáo cũng như các chi phí sản xuất kinh doanh khác mà còn đem lại lợi nhuận thực tế cho nhà quảng cáo. Mục đích lợi nhuận chi phối toàn bộ hoạt động quảng cáo, thúc đẩy doanh nghiệp, thương nhân thực hiện quảng cáo cho hàng hoá, dịch vụ, thương hiệu hoặc tên tuổi của mình. Ngược lại, khoản kinh phí các thương nhân dành cho quảng cáo chính là một nguồn thu đáng kể, thậm chí trong nhiều trường hợp có thể khẳng định là nguồn thu lớn nhất, quan trọng nhất của các phương tiện thông tin đại chúng như báo viết, đài phát thanh, đài truyền hình. Tuy cùng thuộc hình thức thông tin phải trả tiền, nhưng biểu giá đưa tin dành cho các quảng cáo xã hội, các thông tin rao vặt, cáo phó nhỏ hơn rất nhiều, thậm chí không đáng kể so với biểu giá quảng cáo thương mại dành cho doanh nghiệp, mặc dù khoảng trống trên trang báo hay thời lượng phát sóng trên đài truyền thanh, truyền hình của hai tin thuộc hai loại có thể bằng nhau.
Như vậy, doanh thu từ quảng cáo thương mại đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại của các công cụ quảng cáo. Doanh thu từ quảng cáo còn giúp các phương tiện thông tin đại chúng thực hiện chức năng cơ bản của mình là cung cấp thông tin cho công chúng một cách dễ dàng hơn. Công chúng tiếp cận được thông tin với chi phí thấp khi báo in đa phần được bán với giá thấp hơn giá thành, và thậm chí là miễn phí như nhiều kênh phát thanh và truyền hình đại chúng hiện nay. Như vậy, những lợi ích quảng cáo đem lại đều xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận mà nó hướng tới.
11 - Xét về mặt thống kê, quảng cáo thương mại chiếm số lượng lớn, mang tính tuyệt đối trong số các loại hình quảng cáo. Bên cạnh đó, quảng cáo thương mại là loại hình quảng cáo duy nhất mang tính ổn định, liên tục trong một thời gian dài. Các loại hình quảng cáo phi lợi nhuận, chẳng hạn như quảng cáo chính trị phục vụ bầu cử hay quảng cáo vận động cho một chương trình xã hội, chỉ thực hiện trong một thời điểm, một thời hạn xác định. Mặt khác, quảng cáo chính trị và quảng cáo xã hội xét về không gian hiển nhiên sẽ bị hạn chế trong một lãnh thổ nhất định, chỉ có quảng cáo thương mại mới vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ.
Khi một hàng hoá được bán tại Châu Âu cũng như tại Việt Nam, thì một mẫu quảng cáo thực hiện tại Châu Âu vẫn có thể sử dụng trên thị trường Việt Nam và đem lại những hiệu quả tương tự như nó đã có tại nơi xuất xứ. - Xét về mặt xã hội, từ “quảng cáo” được xã hội hiện nay gắn liền và gần như đồng nghĩa với quảng cáo thương mại. Các hình thức quảng cáo chính trị hay quảng cáo xã hội hiện nay dần được coi chỉ là hoạt động tuyên truyền, thông tin đơn thuần nhằm phục vụ chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước hay các tổ chức khác. Có thể thấy trên các trang báo hay chương trình truyền hình, mục quảng cáo chỉ bao gồm các quảng cáo thương mại, còn các tin nhắn rao vặt, cáo phó.
được xếp vào một mục khác tách biệt. Rõ ràng trong nhận thức xã hội, quảng cáo ngày càng được hiểu và được chấp nhận rộng rãi như là một cách gọi rút gọn của quảng cáo thương mại. Tóm lại, có thể hiểu quảng cáo thương mại là hoạt động của thương nhân để đưa thông tin hoạt động kinh doanh của mình đến khách hàng nhằm thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ vì mục đích lợi nhuận. Quảng cáo thương mại gây nhầm lẫn Quảng cáo thương mại có một vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng cũng như đối với sự phát triển của thị trường hàng hóa, dịch vụ nói chung.
Tuy nhiên, với sự xuất hiện ồ ạt trên các phương tiện thông tin đại chúng như hiện nay, hoạt động quảng cáo thương mại 12 đang có nhiều biến tướng cả về hình thức và nội dung truyền tải. Nhiều trường hợp doanh nghiệp sử dụng quảng cáo thương mại để thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, xâm hại đến lợi ích của người tiêu dùng. Một trong những hình thức vi phạm phổ biến được các doanh nghiệp sử dụng trong thời gian qua là quảng cáo thương mại gây nhầm lẫn. Hành vi quảng cáo thương mại gây nhầm lẫn thường được các doanh nghiệp sử dụng bởi khả năng truyền tải thông tin và hiệu quả mang lại từ sự "gây nhầm lẫn" về thông tin đó là khá lớn.
Chúng ta có thể hiểu “quảng cáo gây nhầm lẫn là việc đưa ra các thông tin có thể không hoàn toàn sai lệch so với thực tế nhưng lại không đầy đủ, không rõ ràng làm cho khách hàng hiểu nhầm về hàng hóa, dịch vụ hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp” [6]. Trường hợp này, chủ thể thực hiện quảng cáo có thể không cố ý làm khách hàng hiểu sai nhưng nội dung quảng cáo vẫn gây ảnh hưởng sấu và cần phải được pháp luật điều chỉnh. Như vậy có thể thấy quảng cáo thương mại và quảng cáo thương mại gây nhầm lẫn không có ranh giới thật sự rõ ràng. Bởi vì, quảng cáo thương mại thường nhằm đến mục đích đưa thông tin về sản phẩm, dịch vụ đến với người tiêu dùng; còn quảng cáo thương mại gây nhầm lẫn thường cung cấp những thông tin mập mờ, không đầy đủ, rõ ràng, làm cho người tiêu dùng hiểu nhầm về hàng hóa, dịch vụ.