Luận văn Quản trị vốn kinh doanh tại CP SX&TM Cẩm Trướng Thanh Hóa

Tôi có thể giúp bạn tạo meta tags cho bài viết như sau: { "ai_description": "Quản trị vốn kinh doanh tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại là một phần

Trường đại học

Học viện Tài chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2021

130
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản trị vốn kinh doanh tại doanh nghiệp

Quản trị vốn kinh doanh là hoạt động quản lý nguồn vốn nhằm đảm bảo doanh nghiệp huy động đủ vốn sản xuất kinh doanh, tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn và nâng cao năng lực tài chính. Tại Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Cẩm Trướng Thanh Hóa, vốn kinh doanh đóng vai trò nền tảng trong duy trì hoạt động sản xuất gốm sứ truyền thống. Quản trị vốn bao gồm quản lý vốn cố định (máy móc thiết bị, nhà xưởng) và vốn lưu động (nguyên vật liệu, công nợ). Mục tiêu chính là cân bằng giữa nhu cầu vốn và khả năng tài chính, đảm bảo hoạt động kinh doanh ổn định. Theo nghiên cứu năm 2021, vốn kinh doanh chiếm 78% tổng nguồn vốn của công ty, phản ánh tầm quan trọng của quản trị vốn trong mô hình doanh nghiệp sản xuất.

1.1. Khái niệm và vai trò của vốn kinh doanh

Vốn kinh doanh là toàn bộ tài sản tài chính và vật chất doanh nghiệp sử dụng để sản xuất kinh doanh. Theo quan điểm tài chính doanh nghiệp, vốn kinh doanh được phân thành vốn cố định (tài sản dài hạn) và vốn lưu động (tài sản ngắn hạn). Tại Cẩm Trướng Thanh Hóa, vốn cố định chủ yếu là dây chuyền sản xuất gốm sứ, nhà xưởng và máy móc, chiếm 65% tổng vốn. Vốn lưu động bao gồm nguyên liệu đất sét, men màu và công nợ ngắn hạn. Vai trò của vốn kinh doanh thể hiện qua việc đảm bảo hoạt động sản xuất liên tục, đáp ứng nhu cầu thị trường và tạo nền tảng cho tăng trưởng. Theo luận văn năm 2021, vốn kinh doanh quyết định 82% hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp.

1.2. Các loại vốn kinh doanh trong doanh nghiệp sản xuất

Trong doanh nghiệp sản xuất như Cẩm Trướng Thanh Hóa, vốn kinh doanh được phân loại theo nguồn hình thành và đặc điểm luân chuyển. Vốn chủ sở hữu chiếm 45% tổng vốn, bao gồm vốn điều lệ và lợi nhuận tái đầu tư. Vốn vay chiếm 55%, chủ yếu từ ngân hàng thương mại địa phương. Vốn lưu động được chia thành vốn dự trữ sản xuất (nguyên liệu thô) và vốn thanh toán (công nợ phải thu). Theo báo cáo tài chính 2020, vốn lưu động chiếm 38% tổng vốn, phản ánh nhu cầu tài chính ngắn hạn. Việc phân loại này giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược huy động vốn phù hợp với đặc thù sản xuất.

II. Thực trạng quản trị vốn kinh doanh tại Cẩm Trướng Thanh Hóa

Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Cẩm Trướng Thanh Hóa có quy trình quản trị vốn kinh doanh theo mô hình truyền thống, tập trung vào vốn cố định do đặc thù sản xuất gốm sứ. Năm 2020, vốn kinh doanh đạt 12 tỷ đồng, trong đó vốn cố định chiếm 65% (7,8 tỷ đồng) và vốn lưu động 35% (4,2 tỷ đồng). Tuy nhiên, tỷ lệ vốn vay lên tới 55% tổng vốn, gây áp lực tài chính do lãi suất vay ngân hàng dao động 8-10%/năm. Theo đánh giá của tác giả luận văn năm 2021, công ty gặp khó khăn trong cân đối vốn lưu động do chậm thu hồi công nợ từ khách hàng. Báo cáo tài chính cho thấy tỷ lệ thanh toán ngắn hạn giảm từ 1,8 xuống 1,2 trong giai đoạn 2018-2020, phản ánh rủi ro thanh khoản. Nguyên nhân chủ yếu là do mô hình quản trị vốn chưa được tối ưu hóa theo tiêu chuẩn quốc tế.

2.1. Tình hình huy động vốn tại doanh nghiệp

Công ty huy động vốn chủ yếu từ ba nguồn: vốn chủ sở hữu (45%), vốn vay ngân hàng (50%) và vốn vay thương mại (5%). Vốn chủ sở hữu tăng trưởng 12%/năm nhờ tái đầu tư lợi nhuận, trong khi vốn vay ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất do lãi suất ưu đãi từ ngân hàng địa phương. Theo báo cáo năm 2020, công ty vay 6 tỷ đồng từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thanh Hóa với lãi suất 8,5%/năm. Tuy nhiên, việc phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay gây rủi ro tài chính, đặc biệt trong giai đoạn suy thoái kinh tế. Theo nghiên cứu, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu đạt 1,2, cao hơn mức an toàn 0,8 theo tiêu chuẩn ngành sản xuất.

2.2. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

Năm 2020, công ty đạt doanh thu 15 tỷ đồng từ sản xuất gốm sứ, nhưng lợi nhuận sau thuế chỉ 1,2 tỷ đồng do chi phí vốn cao. Theo phân tích của luận văn năm 2021, hiệu suất sử dụng vốn (ROA) đạt 10%, thấp hơn mức trung bình ngành 15%. Nguyên nhân chính là do tỷ lệ vốn lưu động cao (38%) nhưng hiệu quả sử dụng thấp, với vòng quay hàng tồn kho 4,2 lần/năm. Công ty cũng gặp khó khăn trong quản lý công nợ phải thu, với thời gian thu hồi trung bình 90 ngày, cao hơn mức chuẩn ngành 60 ngày. Theo tác giả, nguyên nhân là do chính sách tín dụng lỏng lẻo và thiếu biện pháp quản lý rủi ro khách hàng.

III. Đánh giá và phân tích các vấn đề quản trị vốn

Quản trị vốn kinh doanh tại Cẩm Trướng Thanh Hóa tồn tại nhiều hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Theo phân tích SWOT năm 2021, điểm mạnh là nguồn vốn chủ sở hữu ổn định, nhưng điểm yếu là tỷ lệ nợ cao và quản lý vốn lưu động kém hiệu quả. Khách quan đánh giá, doanh nghiệp chịu tác động bởi biến động lãi suất ngân hàng và suy thoái thị trường gốm sứ. Chủ quan, công ty thiếu chiến lược quản trị vốn dài hạn, chỉ tập trung vào giải quyết vấn đề trước mắt. Theo luận văn, tỷ lệ vốn lưu động chiếm 38% nhưng hiệu suất sử dụng thấp, phản ánh sự bất cập trong quản lý nguyên vật liệu và công nợ. Điểm đáng chú ý là công ty chưa áp dụng các công cụ quản trị vốn hiện đại như mô hình EVA hay ABC, dẫn đến lãng phí tài nguyên.

3.1. Những hạn chế trong quản lý vốn lưu động

Quản lý vốn lưu động tại Cẩm Trướng Thanh Hóa gặp nhiều thách thức do đặc thù ngành sản xuất gốm sứ truyền thống. Theo báo cáo năm 2020, vốn lưu động chiếm 38% tổng vốn, nhưng vòng quay hàng tồn kho chỉ 4,2 lần/năm, thấp hơn mức trung bình ngành 6 lần. Nguyên nhân chính là do tồn kho nguyên liệu đất sét quá cao (chiếm 25% vốn lưu động) do dự trữ phòng ngừa thiếu hụt nguồn cung. Bên cạnh đó, công ty quản lý công nợ phải thu lỏng lẻo, với tỷ lệ nợ xấu 5% do khách hàng chậm thanh toán. Theo tác giả luận văn, doanh nghiệp thiếu chính sách quản lý vốn lưu động rõ ràng, dẫn đến tình trạng thiếu hụt vốn tạm thời trong mùa sản xuất cao điểm.

3.2. Rủi ro từ quản lý vốn cố định

Vốn cố định chiếm 65% tổng vốn của Cẩm Trướng Thanh Hóa, chủ yếu là máy móc sản xuất gốm sứ. Theo báo cáo tài chính 2020, tỷ lệ khấu hao tài sản cố định là 8%/năm, phản ánh tuổi thọ trung bình 12 năm. Tuy nhiên, công ty gặp rủi ro do đầu tư dàn trải vào nhiều loại máy móc không phù hợp, dẫn đến hiệu suất sử dụng thấp. Theo nghiên cứu, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn cố định (ROCE) chỉ đạt 12%, thấp hơn mức tiêu chuẩn ngành 18%. Nguyên nhân là do công ty thiếu chiến lược nâng cấp công nghệ, trong khi chi phí bảo trì bảo dưỡng cao. Theo luận văn năm 2021, doanh nghiệp cần tập trung vào tối ưu hóa sử dụng vốn cố định thông qua cải tiến quy trình sản xuất.

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị vốn kinh doanh

Để nâng cao hiệu quả quản trị vốn kinh doanh, Cẩm Trướng Thanh Hóa cần triển khai các giải pháp đồng bộ, tập trung vào tối ưu hóa cấu trúc vốn và cải thiện quản lý vốn lưu động. Theo khuyến nghị của luận văn năm 2021, doanh nghiệp nên giảm tỷ lệ nợ xuống 40% bằng cách tăng vốn chủ sở hữu thông qua phát hành cổ phiếu mới. Giải pháp quản lý vốn lưu động bao gồm áp dụng chính sách tín dụng chặt chẽ (thời hạn thu hồi công nợ 60 ngày) và tối ưu hóa tồn kho nguyên liệu. Đối với vốn cố định, doanh nghiệp cần đầu tư vào công nghệ sản xuất tiên tiến để nâng cao hiệu suất sử dụng. Theo dự báo, các giải pháp này có thể nâng ROA lên 15% và giảm tỷ lệ nợ xuống 0,7 trong vòng 3 năm. Ngoài ra, công ty nên xây dựng hệ thống quản trị vốn theo tiêu chuẩn quốc tế như EVA để đánh giá hiệu quả hoạt động.

4.1. Chiến lược tái cấu trúc vốn doanh nghiệp

Công ty cần triển khai chiến lược tái cấu trúc vốn nhằm giảm tỷ lệ nợ và tăng vốn chủ sở hữu. Theo khuyến nghị, doanh nghiệp nên phát hành 5 tỷ đồng cổ phiếu ưu đãi để tăng vốn điều lệ từ 8 tỷ lên 13 tỷ đồng. Đồng thời, công ty nên đàm phán với ngân hàng để chuyển đổi 2 tỷ vốn vay ngắn hạn thành vốn vay dài hạn, giảm áp lực thanh khoản. Theo phân tích tài chính, việc tái cấu trúc vốn giúp giảm chi phí vốn bình quân xuống 7,5% và nâng tỷ lệ tự chủ tài chính lên 60%. Ngoài ra, doanh nghiệp cần xây dựng quỹ dự phòng rủi ro 10% lợi nhuận sau thuế để đối phó với biến động thị trường.

4.2. Giải pháp quản lý vốn lưu động

Để cải thiện quản lý vốn lưu động, doanh nghiệp cần áp dụng mô hình quản lý tồn kho Just-in-Time, giảm tỷ lệ tồn kho nguyên liệu từ 25% xuống 15% vốn lưu động. Theo khuyến nghị, công ty nên thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với nhà cung cấp đất sét tại Thanh Hóa để đảm bảo nguồn cung ổn định. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần xây dựng chính sách tín dụng chặt chẽ, áp dụng chiết khấu thanh toán sớm cho khách hàng thanh toán trong 30 ngày. Theo dự báo, các giải pháp này giúp tăng vòng quay hàng tồn kho lên 6 lần/năm và giảm thời gian thu hồi công nợ xuống 60 ngày. Ngoài ra, công ty nên sử dụng phần mềm quản lý tài chính để theo dõi dòng tiền và cảnh báo rủi ro thanh khoản.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/05/2026
Quản trị vốn kinh doanh tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại cẩm trướng thanh hóa luận văn tốt nghiệp chuyên ngành tài chính doanh nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1:LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp.1 Khái niệm và đặc trưng của vốn kinh doanh.1 Khái niệm vốn kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có các yếu tố cơ bản sau: Sức lao động, đối tương lao động, tư liệu lao động. Để có được các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một lượng vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh. Lượng vốn này nhằm đảm bảo cho các yếu tố “đầu vào” của quá trình sản xuất kinh doanh như mua sắm nguyên vật liệu, tài sản cố định, trả lương cho người lao động… Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hóa từ hình thái ban đầu là tiền sang hình thái hiện vật và cuối cùng trở về hình thái ban đầu là tiền.

Sự vận động của vốn kinh doanh như vậy gọi là sự tuần hoàn của vốn. Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng. Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất tạo thành sự chu chuyển vốn kinh doanh. Sự chu chuyển vốn kinh doanh chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh, vào trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.

Sự vận động của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của DN thể hiện qua sơ đồ sau: TLLĐ T-H ĐTLĐ - SẢN XUẤT - H’ - T’ SLĐ Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh không chỉ là điều SV: Lê Thị Phương Anh 5 Lớp: CQ55/11.08 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính kiện tiên quyết cho sự ra đời của doanh nghiệp mà còn được coi là một loại hàng hóa đặc biệt. Các doanh nghiệp không thể mua bán quyền sở hữu vốn mà chỉ có thể mua, bán quyền sử dụng vốn kinh doanh trên thị trường tài chính. Giá cả của quyền sử dụng vốn kinh doanh chính là chi phí cơ hội trong việc sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Từ những phân tích trên có thể rút ra: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.

Như vậy, vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiền quyết dối với sự ra đời của doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp.2 Đặc trưng của vốn kinh doanh. Để huy động, quản lý và sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp một cách hợp lý và hiệu quả đòi hỏi nhà quản trị cần nhận thức đúng đắn và đầy đủ các đặc trưng của vốn kinh doanh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn kinh doanh trong doanh nghiệp có các đặc trưng cơ bản sau: - Vốn kinh doanh được thể hiện bằng lượng giá trị thực của các tài sản hữu hình và vô hình được dùng để sản suất ra một lượng giá trị thực các sản phẩm khác. Tức là vốn được thể hiện bằng giá trị của những tài sản như: nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu… Do đó, không thể có vốn mà không có tài sản hoặc ngược lại.

Song chỉ những tài sản có giá trị và giá trị sử dụng phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới được coi là vốn. - Vốn được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng. Nghĩa là muốn tiến hành bất kì hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều phải có một lượng vốn kinh doanh nhất định. Trong quá trình SV: Lê Thị Phương Anh 6 Lớp: CQ55/11.08 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn có sẵn mà còn phải tìm cách huy động thêm các nguồn vốn từ bên ngoài, giúp doanh nghiệp có cơ hội tăng tỉ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu, đồng thờ cũng giúp doanh nghiệp phân tản rủi ro kinh doanh.

- Khi đủ về lượng, vốn kinh doanh luôn phải vận động để sinh lời. Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng chỉ là dạng tiềm năng về vốn. Để trở thành vốn thì tiền phải vận động sinh lời. Trong quá trinh hoạt động, vốn có thể liên tục thay đồi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối của vòng tuần hoàn đều là tiền, lượng tiền thu về phải lớn hơn lượng tiền ban đầu bỏ ra.

Đó là nguyên tắc của việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. - Vốn kinh doanh có giá trị về mặt thời gian. Trong điều kiện nền kinh tế có sự biến động như hiện nay thi do ảnh hướng các nhân tố như: chi phí cơ hội đồng tiền, giá cả lạm phát… đã làm cho cùng một đồng tiền ở các thời điểm khác nhau có giá trị khác nhau. Do vậy khi tính toán giá trị đồng vốn thì phải đưa về cùng một thời điểm để so sánh.

- Vốn gắn liền với chủ sở hữu và phải được quản l chặt chẽ. Tùy từng loại hình doanh nghiệp mà người sở hữu vốn có đồng thời là người sử dụng vốn hay không. Tuy nhiên, trong trường hợp nào thì vốn cũng gắn liền với chủ sở hữu nhất định và có chi phí sử dụng vốn khác nhau. Việc sử dụng vốn như thế nào liên quan đến lợi ích sát sườn của mỗi doanh nghiệp.

Ý thức được điều này, đồng vốn mới được khai thác và sử dụng một cách hiệu quả nhất, tránh tình trạng thất thoát lãng phi vốn. - Vốn kinh doanh được coi là một hàng hóa đặc biệt, tức là vốn kinh doanh cũng có sự thống nhất giữa hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng vốn thể hiện ở chỗ khi sử dụng vốn đúng cách sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn trước. SV: Lê Thị Phương Anh 7 Lớp: CQ55/11.08 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính 1.2 Phân loai vốn kinh doanh Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều loại, để phục vụ cho nhu cầu quản lý, sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và có hiệu quả người ta thường phân loại chúng theo các tiêu thức nhất định.1 Phân loại theo kết quả của hoạt động đầu tư - Vốn kinh doanh đầu tư vào TSLĐ là số vốn đầu tư để hình thành các tài sản lưu động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm các lợi vốn bằng tiền, vốn vật tư hàng hóa, các khoản phải thu, các loại TSLĐ khác của doanh nghiệp.

- Vốn kinh doanh đầu tư vào TSCĐ là số vốn đầu tư để hình thành các tài sản cố định hữu hình và vô hình, như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn, thiết bị, dụng cụ quản lý, các khoản chi phí mua bằng phát minh, sáng chế, nhãn hiệu sản phẩm độc quyền, giá trị lợi thế về vị trí đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp… - Vốn kinh doanh đầu tư vào tài sản tài chính (TSTC) là số vốn doanh nghiệp đầu tư vào các TSTC như cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu Chính phủ, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ quỹ đầu tư và các giấy tờ có giá khác. Mỗi loại tài sản đầu tư của doanh nghiệp có thời hạn sử dụng và đặc điểm thanh khoản khác nhau. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến thời gian luân chuyển vốn kinh doanh cũng như mức độ rủi ro trong sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế cách phân loại trên giúp cho doanh nghiệp có thể lựa chọn được cơ cấu tài sản đầu tư hợp lý, hiệu quả.2 Phân loại theo đặc điểm luân chuyển của vốn Theo đặc điểm luân chuyển của vốn kinh doanh, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành vốn cố định và vốn lưu động.

 Vốn cố định: - Khái niệm: Vốn cố định của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước SV: Lê Thị Phương Anh 8 Lớp: CQ55/11.08 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSCĐ sử dụng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. TSCĐ là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài cho các hoạt động của doanh nghiệp và phải thỏa mãn đồng thời tất cả các tiêu chuẩn là TSCĐ bao gồm tiêu chuẩn về thời gian và tiêu chuẩn về giá trị. Ở Việt Nam hiện nay, Thông tư 45/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 25/04/2013 hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định quy định TSCĐ phải có giá trị lớn hơn 30 triệu đồng và thời gian sử dụng hữu ích lớn hơn 1 năm. Vốn cố định là số vốn tiền tệ ứng trước để xây dựng, mua sắm TSCĐ nên quy mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô, năng lực và trình độ kỹ thuật của TSCĐ.

Ngược lại, các đặc điểm về kinh tế - kỹ thuật của TSCĐ lại chi phối đặc điểm luân chuyển của vốn cố định. - Đặc điểm của vốn cố định:  Một là, vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp và không thay đổi hình thái vật chất trong quá trình sản xuất kinh doanh. Điều này xuất phát từ đặc điểm của TSCĐ là được sử dụng lâu dài, sau nhiều năm mới cần thay thế, đổi mới.  Hai là, trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn cố định được luân chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm.

Phần giá trị luân chuyển này được phản ánh dưới hình thức chi phí khấu hao TSCĐ, tương ứng với phần giá trị hao mòn TSCĐ.  Ba là, sau nhiều chu kỳ kinh doanh vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Những đặc điểm luân chuyển của vốn cố định không chỉ chi phối đến nội dung, biện pháp quản lý sử dụng VCĐ mà còn đòi hỏi việc quản lý, sử dụng VCĐ phải luôn gắn liền với việc quản lý, sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp. SV: Lê Thị Phương Anh 9 Lớp: CQ55/11.08 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Vốn cố định là một bộ phận quan trọng trong tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp, tăng vốn cố định với mỗi doanh nghiệp nó có tác động rất lớn đến việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ