Chương 1: Tổng quan tình hình nghien cứu và co sở lý luạn về quản trị tri thức trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản trị tri thức trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội Chương 4: Các đề xuất và kiến nghị nh m hoàn thiẹn quản trị tri thức trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu: Nghiên cứu về quản trị tri thức trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại đã được đề cập trong các sách giáo trình trong các môn học cũng như tạp chí, bài báo của các tác giả nghiên cứu đăng tại các tạp chí, website, internet… Qua tham khảo tài liệu của các tác giả trong nước, đặc biệt là kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu khoa học về quản trị tri thức. Dù nghiên cứu dưới các g c độ khác nhau về tác động của quản trị tri thức đến văn h a học hỏi của doanh nghiệp, đến đổi mới sáng tạo, tác động đến đạo đức của cán bộ ngân hàng, … nhưng nhìn chung, các công trình khoa học này đã tập trung nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý thuyết về quản trị tri thức, các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động quản trị tri thức cũng như tác động và tầm quan trọng của quản trị tri thức trong hoạt động và phát triển của các tổ chức, doanh nghiệp. Liên quan đến quản trị tri thức trong hoạt động tín dụng ngân hàng, học viên đã tìm thấy có những công trình nghiên cứu sau: “Quản trị tri thức” knowledge management - KM) được biết đến trong khoảng 10 năm trở lại đây và là lĩnh vực mới nhất trong quản trị nói chung, tuy nhiên, QTTT đã c những bước phát triển mạnh mẽ đặc biệt là tại những công ty và những quốc gia phát triển chủ yếu dựa vào cong nghẹ tri thức bí quyết.
Những công ty và quốc gia này sẽ tiếp tục dẫn đầu nhờ vào mô hình kinh tế, doanh nghiệp “dựa vào tri thức” này. Đ ng vai trò là một lý thuyết gia về quản trị - giáo sư Nonaka, được xem như mọt “Peter Drucker mới”, ông là một trong những người tiên phong 5 trong lĩnh vực này. Năm 2005, giáo sư Nonaka – người Châu Á duy nhất được nhật báo Phố Wall (Wall Street Journal) bầu trọn là “mọt trong 20 nhà tư tưởng quản trị c ảnh hưởng nhất thế giới”. Những quốc gia ở Mỹ và Châu Âu biết đến sự nghiệp nghiên cứu và lý thuyết sáng tạo tri thức của ông nhiều hơn là người Nhật, quê hương của ông biết đến.
Cuốn “Quản trị dựa vào tri thức” của ông trên cơ sở những nghiên cứu về “quản trị tri thức” đã mở rộng và bổ sung cho lý thuyết về quản trị hiện có, đồng thời cũng đề xuất việc quản lý tri thức như một khái niệm toàn cầu và có thể áp dụng được rộng rãi với bất kỳ công ty nào muốn phát triển bền vững “dựa vào tri thức” trong moi trường kinh doanh nhiều thay đổi. Cuốn “Quản trị dựa vào tri thức” của Ikujiro Nonaka, Ryoko Toyama và Toru Hitara cùng các cộng sự (2010), người dịch Võ Kiều Linh. Thông qua cuốn sách người đọc tiếp cận với những khái niệm về tri thức, quản trị tri thức, khuôn khổ lý thuyết mô hình SECI. Cuốn sách còn đề cập đến tất cả những vấn đề về quản trị tri thức với tầm nhìn và mục tiêu định hướng với những giá trị cho lợi ích chung.
Đồng thời cuốn sách cũng đưa ra các phương thức để thúc đẩy quá trình quản trị tri thức b ng các biện pháp như Đối thoại và thực hành như là đòn bẩy cho phép biện chứng tổ chức; các quá trình giúp nhà quản trị sử dụng những tài sản tri thức một cách năng động; đồng thời nêu bật được vai trò của nhà lãnh đạo. Bởi thông qua nhà lãnh đạo sẽ giúp đẩy mạnh sự phân bổ các tài năng trong tổ chức. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tuyết Vân về “Quản trị tri thức tại trường cao đẳng Công nghệ thông tin hữu nghị Việt Hàn” Trường đại học Đà Nẵng (2014); Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Đình Tuấn học viên khóa 1 Thạc sĩ Kỹ thuật phần mềm về “Quản trị tri thức trong các dự án công nghệ thông tin tại Việt Nam” trường Đại học FPT (2017) đã tập trung nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận về quản trị tri thức, nguồn tri thức ẩn, tác động của n đến 6 hoạt động của lĩnh vực công nghệ thông tin; đồng thời đưa ra những đề xuất khai phá và lưu trữ cũng như quản lý tri thức; thông qua quá trình trao đổi, sửa mã nguồn, phát hiện lỗi giúp người thực hiện có thể lưu trữ tri thức ẩn để trở thành tri thức hiện. Đặc biệt đã tham khảo những bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khai dự án và phương thức quản trị tri thức trên thế giới và tiển việc tiến hành triển khai giải pháp này tại một số đơn vị tại Việt Nam.
Theo đ luận văn đã đánh giá được thực trạng của việc triển khai trước đ khi chưa áp dụng các biện pháp quản trị tri thức và từ những nghiên cứu về thực trạng các tác giả đã đánh giá, đưa ra những thành công, hạn chế và các giải pháp để nhà trường cũng như công ty sử dụng lại những tri thức, kinh nghiệm của những người/ dự án đã thực hiện trước đây b ng cách xem lại nhật ký chỉnh sửa thực hiện việc quản trị tri thức với doanh nghiệp trong tương lai. Đề tài xác định hướng đi đúng đắn về phát triển quản trị tri thức, nhưng các giải pháp quản trị tri thức mà các tác giả hướng đến chỉ chú trọng các giải pháp liên quan đến hệ thống công nghệ thông tin chưa c những giải pháp đến các doanh nghiệp kinh doanh hay các trong các tổ chức tín dụng với các vấn đề chú trọng cả về con người và hệ thống. Hoàng Thị Thu Hương và Trịnh Khánh Vân (2015) trong nghiên cứu Quản trị tri thức trong các thư viện trường đại học – hỗ trợ cho quá trình phát triển giáo dục ở Việt Nam, nghiên cứu cho thấy thông qua việc xây dựng hệ thống thông tin này mà thông tin trong thư viện luôn luôn được cập nhật, cân đối giữa các cơ sở, truyền bá đến cộng đồng người sử dụng phục vụ cho quá trình giáo dục, đào tạo được tốt hơn. Thiết nghĩ, nếu các trung tâm thông tin- thư viện trường đại học ở Việt Nam có một chiến lược quy hoạch, phổ biến thông tin bài bản sẽ đ ng g p rất lớn để tận dụng được nguồn tin, phát triển các dịch vụ thông tin, nâng cao thói quen sử dụng tài nguyên học tập và hình thành thói quen "học tập suốt đời" cho cả bạn đọc lẫn thủ thư nh m nâng cao 7 chất lượng giáo dục, đào tạo đại học ở Việt Nam.
Tuy nhiên nghiên cứu chủ yếu sử dụng các dữ liệu thứ cấp hoặc các thông tin từ các nghiên cứu nước ngoài liên quan đến vai trò của hệ thống thông tin vì vậy các kết quả nghiên cứu chưa thể hiện được rõ nét về mô hình QTTT của các trường đại học. Với những kết quả đạt được, các công trình nghiên cứu trên đã được ghi nhận và trở thành nguồn tài liệu tham khảo quý báu, là cơ sở lý luận và thực tiễn cho nghiên cứu này. Mặc dù vấn đề quản trị tri thức đã được không ít tác giả đề cập song cho đến nay, có rất ít các công trình khoa học tập trung nghiên cứu làm rõ các tác động của quản trị tri thức đến hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại. Vì lý do trên, đây là đề tài mới và không trùng lặp với các công trình khoa học mà tôi đã biết.
Cơ sở lý luận về quản trị tri thức 1. Tri thức Buổi sơ khai, khái niệm về tri thức đã được các nhà triết học cổ đại đưa ra. Với nhà Triết học cổ đại Platon thì khái niệm tri thức được định nghĩa là một niềm tin đúng đã được biện minh được công nhận (knowledge is a justified true belief ). Việc định nghĩa khái niệm và phân loại tri thức của các thời kỳ phát triển sau này của xã hội dựa nhiều vào mục đích phân loại nh m áp dụng cho cho điều gì.
Trên phương diện về chính trị, tri thức được hiểu là những con người có học vấn, tư tưởng tiến bộ, quan niệm đ nh m phân loại để những người cách mạng xây dựng liên minh giai cấp với các thể chế khác nhau. Trên phương diện sản xuất, kinh doanh thì tri thức được đánh giá là nguồn lực về khả năng tiếp nhận, nắm giữ, sáng tạo, mức độ tạo ra sản phẩm trí tuệ hay sản phẩm vật chất phục vụ cho xã hội. Tri thức được nhìn nhận là những nhận thức được chứng minh về vật chất của thế giới khách quan. Nó luôn được cập nhật, thay đổi do đây là những nhận thức chủ quan về thế giới khách quan (do thế giới khách quan luôn có những yếu tố biến động, đòi hỏi 8 những nhận thức cũng luôn được cập nhật).
Trong giới hạn đề cập của đề tài này việc đưa ra những quan điểm về tri thức và các nội dung trình bày dựa vào các nghiên cứu, các nhận định đã được các học giả khẳng định dựa trên mục đích áp dụng cho lĩnh vực kinh tế nói chung và trong lý thuyết về doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp nói riêng. Vấn đề tri thức trong các lý thuyết về doanh nghiệp được đề cập chủ yếu trên quan điểm về nguồn lực của doanh nghiệp, trong đ xem tri thức là một trong những nguồn lực quan trọng mang lại lợi nhuận trên trung bình (Winter, 1987; Prahalad và Hamel, 1990. Theo Nonaka và Takeuchi (1995), “niềm tin” và “sự cam kết” là yếu tố chính tạo nên tri thức, các ông đã kế thừa và phát triển định nghĩa này. Năm 1996, tác giả Spender bổ sung việc có tri thức hay sự hiểu biết cũng hàm ý cá nhân có thể tham gia vào quy trình biến tri thức trở nên ý nghĩa.
Năm 1998, trong nghiên cứu của mình, Davenport và cs, coi tri thức là một tập hợp bao gồm kinh nghiệm, giá trị, thông tin và sự hiểu biết mà có thể giúp cá nhân đánh giá và thu nhận thêm kinh nghiệm và thông tin mới.