Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức bùng nổ, nguồn vốn tri thức và tài sản vô hình chiếm từ 80% đến 95% tổng giá trị hoạt động của một tổ chức hiện đại. Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt – Hàn được thành lập theo Quyết định số 2150/QĐ-BGD&ĐT ngày 03/05/2007, là kết quả hợp tác chiến lược giữa hai chính phủ với tổng mức đầu tư ban đầu đạt 20 triệu USD (trong đó chính phủ Hàn Quốc viện trợ không hoàn lại 10 triệu USD và chính phủ Việt Nam đối ứng 10 triệu USD), cùng nguồn vốn đầu tư nâng cấp bổ sung đạt khoảng 9 triệu USD. Trải qua giai đoạn xây dựng và phát triển, trường đã tuyển sinh 8 khóa đào tạo với quy mô hơn 5.000 sinh viên thuộc 10 chuyên ngành công nghệ thông tin then chốt. Tuy nhiên, dù hạ tầng kỹ thuật được trang bị hiện đại, công tác quản trị nguồn lực tri thức tại trường vẫn đối mặt với nhiều rào cản mang tính phân tán và tự phát. Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm đạt khoảng 46% trên tổng số gần 3.000 sinh viên ra trường, đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới phương thức đào tạo và tối ưu hóa năng lực học thuật.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là xác định những điểm nghẽn trong luồng vận động tri thức giữa 217 cán bộ, giảng viên và nhân viên, từ đó giải quyết tình trạng thất thoát kinh nghiệm giảng dạy khi nhân sự biến động. Mục tiêu cụ thể của luận văn bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị tri thức trong tổ chức giáo dục, đánh giá toàn diện thực trạng chia sẻ tri thức tại trường và thiết lập hệ thống giải pháp quản trị tri thức thực tiễn có tính ứng dụng cao. Phạm vi nghiên cứu tập trung tại Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt – Hàn tại thành phố Đà Nẵng, khảo sát các dữ liệu thực nghiệm trong tháng 06/2014. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi cung cấp khung giải pháp đồng bộ giúp gia tăng hiệu suất chuyển giao tri thức cho 125 giảng viên cơ hữu và hàng nghìn sinh viên theo học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn dựa trên nền tảng lý thuyết phân loại tri thức của Nonaka và Takeuchi (1995), phân định rõ hai dạng thức cơ bản: tri thức hiện (explicit knowledge) là những tri thức đã được văn bản hóa, mã hóa thành tài liệu, giáo trình, quy trình ISO; và tri thức ẩn (tacit knowledge) là kinh nghiệm, bí quyết giảng dạy, trực giác nghề nghiệp nằm trong nhận thức của từng cá nhân. Để mô hình hóa quá trình chuyển hóa này, nghiên cứu vận dụng mô hình sáng tạo tri thức xoắn ốc SECI gồm 4 quá trình tương tác liên tục: Xã hội hóa (Socialization - chia sẻ tri thức ẩn giữa các cá nhân), Ngoại hóa (Externalization - chuyển hóa tri thức ẩn thành văn bản, khái niệm rõ ràng), Kết hợp (Combination - hệ thống hóa các tri thức hiện thành tri thức mới) và Tiếp thu (Internalization - biến tri thức hiện thành năng lực nội tại của cá nhân).

Bên cạnh đó, tác giả tích hợp lý thuyết hai chiến lược quản trị tri thức của Hansen và các cộng sự (1999), bao gồm Chiến lược hệ thống hóa (tập trung vào tài liệu, cơ sở dữ liệu số hóa) và Chiến lược cá nhân hóa (thúc đẩy tương tác trực tiếp người với người). Nghiên cứu cũng ứng dụng quan điểm về Tổ chức học tập của Peter Senge, nhấn mạnh việc tạo lập môi trường khuyến khích sáng tạo và liên tục cập nhật năng lực chuyên môn. Khung phân tích được hoàn thiện thông qua việc tích hợp 3 yếu tố nền tảng của quản trị tri thức: Con người (đóng vai trò hạt nhân quyết định), Quy trình (các thủ tục và chuẩn mực vận hành) và Hệ thống công nghệ thông tin (công cụ lưu trữ, truyền tải và chia sẻ dữ liệu).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thống kê nhân sự, các đề án đào tạo, cổng thông tin điện tử và hệ thống quy trình làm việc theo tiêu chuẩn ISO 9000:2001 của nhà trường. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua hai phương pháp chính: phỏng vấn sâu định tính 10 chuyên gia và cán bộ quản lý cấp cao có nhiều năm kinh nghiệm tại trường, kết hợp điều tra khảo sát định lượng bằng bảng hỏi cấu trúc.

Quy mô mẫu khảo sát gồm 170 người trên tổng số 217 nhân sự toàn trường (đạt tỷ lệ bao phủ mẫu 78,3%), bao gồm 120 giảng viên (chiếm 71%) và 50 cán bộ, nhân viên văn phòng (chiếm 29%). Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho các nhóm chuyên môn, trình độ và thâm niên công tác khác nhau. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân loại tần số và so sánh tỷ lệ phần trăm được lựa chọn vì tính trực quan, giúp phản ánh chính xác thực trạng nhận thức, thái độ và mức độ sẵn sàng tham gia quản trị tri thức của đội ngũ học thuật. Toàn bộ quá trình thu thập dữ liệu thực địa được tiến hành tập trung từ ngày 10/06/2014 đến ngày 20/06/2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, khảo sát thực nghiệm ghi nhận nhận thức sâu sắc về tính cấp thiết của quản trị tri thức trong toàn trường. Có 82% cán bộ, giảng viên (140/170 người) đánh giá việc chia sẻ thông tin và tri thức là rất cần thiết, 18% (30 người) đánh giá cần thiết và hoàn toàn không có ý kiến phản đối (0%). Tương tự, 74% nhân sự (125 người) cho rằng việc xây dựng một hệ thống chia sẻ tài nguyên chuyên biệt giữa cán bộ, giảng viên với nhau là rất cần thiết, và 82% nhấn mạnh sự cần thiết của kênh chia sẻ tri thức số hóa dành riêng cho sinh viên.

Thứ hai, mức độ sẵn sàng chia sẻ tri thức của đội ngũ nhân sự đạt tỷ lệ rất cao. Cụ thể, có 82% người được hỏi (140 người) khẳng định rất sẵn sàng chia sẻ tri thức chuyên môn với đồng nghiệp, trong khi 18% (30 người) ở mức sẵn sàng. Đối với sinh viên, có 74% cán bộ, giảng viên (125 người) rất sẵn sàng chia sẻ học liệu và kinh nghiệm nghề nghiệp, 26% còn lại ở mức sẵn sàng.

Thứ ba, cơ cấu nhân lực tại trường bộc lộ tiềm năng tri thức lớn nhưng mất cân đối về học vị cao cấp. Trong tổng số 217 nhân sự, trình độ thạc sĩ chiếm 58,5% (127 người), đại học chiếm 18,0% (39 người), dưới đại học chiếm 18,4% (40 người), và chỉ có 1 tiến sĩ (chiếm 0,46%). Riêng khối 120 giảng viên cơ hữu có 100 thạc sĩ (chiếm 83,3%) và 20 cử nhân (chiếm 16,7%), chưa có tiến sĩ cơ hữu. Về thâm niên, 74% nhân sự (126 người) có thời gian công tác từ 3 đến 5 năm, 26% (44 người) công tác dưới 3 năm.

Thứ tư, hạ tầng công nghệ và kênh lưu trữ tri thức đã được hình thành bước đầu (mạng FTP từng khoa, thư viện điện tử, cổng thông tin đào tạo, ứng dụng Skype) nhưng vận hành phân mảnh, thiếu tính liên thông toàn trường.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự mâu thuẫn giữa nhu cầu, mức độ sẵn sàng rất cao của nhân sự với thực tiễn triển khai quản trị tri thức tại nhà trường. Nguyên nhân cốt lõi là do trong 7 năm đầu thành lập, lãnh đạo nhà trường tập trung phần lớn nguồn lực tài chính và quản trị vào việc cử cán bộ đi đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ nhằm đáp ứng yêu cầu nâng chuẩn giảng dạy, do đó chưa kịp ban hành chiến lược quản trị tri thức chính thức. Các hoạt động lưu trữ tri thức hiện nay chủ yếu mang tính tự phát tại từng đơn vị chuyên môn (Trung tâm Công nghệ thông tin, Trung tâm Thông tin Tư liệu, các khoa đào tạo) mà thiếu một khung điều phối thống nhất.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu của Kavindra Mathi (2004) và Lee & Choi (2002), khẳng định rằng sự thành công của quản trị tri thức phụ thuộc quyết định vào thái độ của nhân viên và sự bảo trợ chiến lược từ ban lãnh đạo. Về mặt trình bày trực quan, các dữ liệu này có thể được thể hiện thông qua Bảng cơ cấu nhân sự theo học vị kết hợp Biểu đồ cột phân bố mức độ sẵn sàng chia sẻ tri thức theo thâm niên công tác, giúp các nhà quản trị dễ dàng nhận diện nhóm nhân sự nòng cốt để triển khai các dự án tri thức thí điểm.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao hiệu quả quản trị tri thức tại Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt – Hàn, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Hoạch định và ban hành Chiến lược quản trị tri thức tích hợp: Ban Giám hiệu chủ trì xây dựng chiến lược kết hợp giữa hệ thống hóa dữ liệu và cá nhân hóa giao tiếp. Mục tiêu cụ thể là đạt 100% cán bộ, giảng viên tham gia vào khung quản trị tri thức chung, cắt giảm ít nhất 50% thời gian tìm kiếm tài liệu chuyên môn và thủ tục hành chính. Lộ trình triển khai thực hiện từ Quý 3/2014 đến Quý 1/2015.
  • Xây dựng hạ tầng cổng tri thức số hóa và hệ thống E-Learning đồng bộ: Trung tâm Công nghệ thông tin phối hợp với Trung tâm Thông tin Tư liệu và các khoa đào tạo nâng cấp hệ thống máy chủ, tích hợp trang Wiki nội bộ, kho lưu trữ FTP đám mây và hệ thống E-Learning. Mục tiêu số hóa 100% bài giảng của 10 chuyên ngành đào tạo, xây dựng ngân hàng câu hỏi thi trắc nghiệm và thư viện bài giảng đa phương tiện Rich Media trong thời gian 12 tháng (từ tháng 07/2014 đến tháng 07/2015).
  • Tạo lập môi trường văn hóa tổ chức học tập và cơ chế đãi ngộ: Phòng Tổng hợp phối hợp Công đoàn và Đoàn thanh niên ban hành quy chế ghi nhận đóng góp học thuật. Mục tiêu tổ chức tối thiểu 12 buổi hội thảo, sinh hoạt học thuật chuyên đề mỗi năm; trích tối thiểu 15% quỹ khen thưởng định kỳ để trao thưởng cho các sáng kiến số hóa giáo trình và chia sẻ kinh nghiệm xuất sắc. Thời gian thực hiện bắt đầu từ Quý 4/2014.
  • Chuẩn hóa quy trình chuyển giao tri thức theo tiêu chuẩn ISO 9000:2001: Phòng Hành chính – Quản trị phối hợp Phòng Hợp tác Quốc tế & Nghiên cứu Khoa học rà soát, văn bản hóa 100% quy trình đào tạo, hướng dẫn thực hành và kết quả nghiên cứu khoa học thành tài liệu dùng chung trước tháng 12/2014.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban Lãnh đạo và các nhà quản lý giáo dục đại học, cao đẳng: Khai thác tài liệu như một cẩm nang thực tiễn để xây dựng chiến lược quản trị tài sản vô hình, tối ưu hóa nguồn vốn đầu tư công và nâng cao chất lượng kiểm định đào tạo.
  • Trưởng các khoa chuyên môn, bộ môn và giám đốc trung tâm thông tin - công nghệ: Ứng dụng trực tiếp giải pháp thiết lập thư viện số, Wiki nội bộ và chuẩn hóa ngân hàng bài giảng cho 10 ngành đào tạo công nghệ, thương mại điện tử.
  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản lý giáo dục: Tham khảo khung lý thuyết SECI hoàn chỉnh, bộ công cụ khảo sát 170 mẫu thực nghiệm và phương pháp tiếp cận đánh giá năng lực tri thức trong tổ chức công lập.
  • Doanh nghiệp công nghệ và tổ chức đang chuyển đổi số: Vận dụng mô hình phối hợp 3 yếu tố Con người – Quy trình – Công nghệ để ngăn ngừa tình trạng chảy máu tri thức ẩn khi có sự luân chuyển nhân sự quy mô lớn.

Câu hỏi thường gặp

  • Sự khác biệt bản chất giữa tri thức hiện và tri thức ẩn trong môi trường trường cao đẳng là gì?
    Tri thức hiện là giáo trình, đề cương môn học, quy chế ISO được lưu trữ rõ ràng trên hệ thống thư viện và cổng đào tạo. Ngược lại, tri thức ẩn là kinh nghiệm sư phạm, kỹ năng lập trình thực tế của 125 giảng viên, vốn rất khó văn bản hóa nhưng quyết định đến 80% chất lượng đào tạo và cần mô hình SECI để chuyển giao.

  • Vì sao nhà trường nên ưu tiên chiến lược hệ thống hóa kết hợp với cá nhân hóa?
    Trường sở hữu 127 thạc sĩ trên tổng số 217 nhân sự và đang đào tạo hơn 5.000 sinh viên. Chiến lược hệ thống hóa dựa trên CNTT giúp số hóa nhanh chóng toàn bộ học liệu cho 10 chuyên ngành, trong khi cá nhân hóa duy trì tương tác chuyên môn trực tiếp, tạo sự cân bằng tối ưu giữa công nghệ và con người.

  • Khảo sát thực nghiệm chỉ ra rào cản lớn nhất đối với quản trị tri thức tại trường là gì?
    Khảo sát cho thấy rào cản không nằm ở sự sẵn sàng của đội ngũ (82% rất sẵn sàng chia sẻ) mà bắt nguồn từ việc thiếu chiến lược đồng bộ từ ban lãnh đạo và hạ tầng phân mảnh. Trước năm 2014, các hoạt động lưu trữ diễn ra cục bộ tại từng khoa mà thiếu một nền tảng liên thông.

  • Công nghệ thông tin giữ vai trò như thế nào trong sự thành công của quản trị tri thức?
    Công nghệ thông tin là công cụ hỗ trợ đắc lực giúp lưu trữ và truyền tải dữ liệu thông qua hệ thống Moodle, Wiki hay FTP. Tuy nhiên, công nghệ không thể tự tạo ra giá trị nếu thiếu sự cam kết chia sẻ từ 170 cán bộ khảo sát và các quy trình chuẩn hóa theo tiêu chuẩn ISO 9000:2001.

  • Việc ứng dụng quản trị tri thức đem lại lợi ích trực tiếp nào cho người học?
    Sinh viên được tiếp cận kho học liệu mở, bài giảng Rich Media và ngân hàng trắc nghiệm chuẩn hóa 24/7. Môi trường học tập số hóa giúp nâng cao năng lực thực hành cho gần 3.000 sinh viên tốt nghiệp, trực tiếp cải thiện tỷ lệ việc làm từ mốc 46% lên mức cao hơn trong thực tế.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết về quản trị tri thức, phân định rõ tri thức ẩn, tri thức hiện và chu trình chuyển hóa tri thức SECI trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
  • Phân tích sâu sắc thực trạng tổ chức và nguồn nhân lực gồm 217 cán bộ, giảng viên cùng hạ tầng kỹ thuật tại Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt – Hàn.
  • Đo lường thực nghiệm nhận thức qua mẫu 170 nhân sự, khẳng định tiềm năng to lớn với 82% người tham gia sẵn sàng chia sẻ tri thức chuyên môn.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp hài hòa giữa Con người, Quy trình và Công nghệ trên nền tảng quản lý chất lượng ISO 9000:2001.
  • Thiết lập lộ trình xây dựng cổng tri thức số hóa cho 10 chuyên ngành, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp.

Kế hoạch hành động tiếp theo đòi hỏi nhà trường hoàn thiện quy chế quản trị tri thức trong vòng 6 tháng và hoàn tất triển khai cổng tri thức số trong 1 năm tới. Kính mời các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục và bạn đọc quan tâm cùng tham khảo, đóng góp ý kiến để hoàn thiện mô hình quản trị tri thức trong kỷ nguyên số.