Chương 1: Cơ sở lý luận của Quản trị tinh gọn: Chương 2: Phương pháp nghiên cứu: Chương 3: Thực trạng quản trị tinh gọn tại BP. QL&KT BĐS Ngân hàng Á Châu: Chương 4: Đề xuất giải pháp hoàn thiện mô hình áp dụng Quản trị tinh gọn tại BP.QL&KT BĐS Ngân hàng Á Châu (ACB): Phần 2 – Kết luận 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TINH GỌN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Quản trị tinh gọn trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu và chứng minh tính hiệu quả cũng như nghiên cứu về các yếu tố giúp triển khai quản trị tinh gọn thành công. Trong đó 3 yếu tố quan trọng và được nhắc tới nhiều nhất là: yếu tố con người, yếu tố công nghệ và yếu tố hệ thống.
Ba yếu tố nêu trên được diễn giải bằng 7 yếu tố phụ là: tập trung vào khách hàng, nhân sự, văn hóa, xây dựng chất lượng, tiêu chuẩn hóa, cải tiến liên tục và hạn chế lãng phí. Các quan điểm chính của Quản trị tinh gọn: - Tư duy sáng tạo trước khi đầu tư: quan tâm đến tập hợp các sáng kiến và giải pháp của cả nhóm thay vì đầu tư với chi phí vốn lớn. Những người làm việc trong cùng quá trình phải cùng nhau thảo luận để khai thác những kinh nghiệm, kỹ năng của tập thể nhằm đưa ra kế hoạch loại bỏ lãng phí và thực hiện cải tiến quá trình làm việc; - Áp dụng ngay một giải pháp tuy chưa hoàn hảo nhưng đúng lúc tốt hơn là áp dụng một giải pháp hoàn hảo nhưng lại không đúng thời điểm; - Lưu kho không phải là có tài sản dự trữ mà là lãng phí hoặc phải mất chi phí; - Sử dụng phương pháp PDCA để triển khai các cải tiến cả khi phát triển và sửa đổi; - Thực hiện liên tục tinh gọn thay vì coi tinh gọn là quá trình cải tiến không có điểm kết thúc; - Qua các nghiên cứu, thông thường, 95% Tổng thời gian sản xuất không tăng giá trị. Rút ngắn khoảng cách giữa Tổng thời gian sản xuất với thời gian tạo giá trị gia tăng bằng cách loại bỏ thời gian và các kết quả không gia tăng giá trị về cả chi phí và chu kỳ thời gian.
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam trong khoảng hơn một thập kỷ trở lại đây, lý thuyết quản trị tinh gọn đã được một số doanh nghiệp áp dụng vào quá trình sản xuất và kinh doanh. Cũng có những thành công nhất định, cũng có không ít trở ngại và thách thức dẫn 5 tới việc chưa đạt được hiệu quả Quản trị như mong muốn. Có thể do vấn đề nhận thức về quản trị tinh gọn chưa được đầy đủ và thiếu tính thực tiễn. Do đó, nhiều nhà khoa học về Quản trị, cũng như những nhà quản trị đã được tôi luyện qua thời gian làm việc tại những nước có nền tảng Quản trị tinh gọn thành công, trong những doanh nghiệp áp dụng quản trị tinh gọn hiệu quả như: Nhật (Toyota), Mỹ, và một số nước khác.
Qua đó, cũng đã có một số các công trình nghiên cứu, áp dụng vào thực tiễn để đúc rút ra những vấn đề cốt lõi nhằm áp dụng vào thực tiễn doanh nghiệp tại Việt Nam, điển hình như: - Nguyễn Đăng Minh, tái bản lần 3 năm 2021 “Quản trị tinh gọn tại Việt Nam – Đường tới thành công”. Được nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. Đây là cuốn sách có giá trị học thuật và thực tiễn cao đề cập tới học thuyết Quản trị tinh gọn với tính chất Việt hóa, được áp dụng qua thực tiễn tại nhiều Doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam đã chứng minh được tính thực tiễn cao của Quản trị tinh gọn, trong đó PGS. TS Nguyễn Đăng Minh đặc biệt nhấn mạnh tới yếu tố “TÂM THẾ” một trong năm nội dung của công cụ 5S Việt hóa, Tâm thế ở đây được đặt tại vị trí trung tâm và là hạt nhân quyết định sự thành công của học thuyết Quản trị tinh gọn.
- Vào năm 2018, cuốn sách “Phương pháp quản lý tinh gọn Lean – Nội dung cơ bản và hướng dẫn áp dụng” là sản phẩm của nhiệm vụ “Phát triển mạng lưới chia sẻ kiến thức về năng suất chất lượng” được biên tập trên cơ sở kết quả các nhiệm vụ thuộc Chương trình Quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020” – Cuốn sách được chỉnh lý từ cuốn “Kiến thức cơ bản về áp dụng Lean tại doanh nghiệp” của tác giả Đặng Thị Mai Phương, Viện Năng suất Việt Nam biên tập, xuất bản năm 2016. - Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Đăng Minh (2014) trong bài nghiên cứu “Quản trị tinh gọn trong các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam, Thực trạng và giải pháp đã thực hiện nghiên cứu trên các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam, đánh giá thực trạng và đưa ra một số giải pháp áp dụng quản trị tinh gọn tại các doanh nghiệp này. - Nguyễn Đăng Minh (2013), “Áp dụng 5S tại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại Việt Nam – Thực trạng và khuyến nghị”, đăng tại Tạp chí khoa học, Đại 6 học Quốc Gia Hà Nội, Vol. Với nghiên cứu này, nhóm tác giả đã chỉ ra thực trạng của việc áp dụng 5S, một công cụ trong Quản trị tinh gọn, tại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại Việt Nam thông qua việc thực hiện khảo sát 52 doanh nghiệp.
Đồng thời, bằng cách phân tích số liệu thu thập được, nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra rằng 5S có tác động tích cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua 4 thông số: Chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất, thời gian giao hàng và thị phần. Cuối cùng, nhóm tác giả sử dụng phương pháp phân tích 5WHYS để tìm ra các nguyên nhân gốc rễ của vấn đề tồn tại trong hiện trạng áp dụng 5S tại 52 doanh nghiệp và đưa ra một số khuyến nghị áp dụng. Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài Phương pháp quản trị tinh gọn được chính thức bắt nguồn từ Toyota với hệ thống sản xuất Toyota (TPS) được triển khai xuyên suốt trong mọi hoạt động của Toyota từ năm 1950 cho tới nay, và được đánh giá là hệ thống sản xuất hiệu quả nhất và Toyota cung là công ty đầu tiên áp dụng chuẩn mực về Quản trị tinh gọn với TPS. Trên thực tế, bắt nguồn từ sâu xa lý luận phân công lao động của Adam Smith đã giúp các nhà sản xuất nâng cao hiệu quả lao động, tiết kiệm thời gian sản xuất bằng cách thay vị phân một công việc lớn cho một người thì nó được chia nhỏ thành các công việc phụ cho nhiều người cùng thực hiện.
Lý thuyết Quản trị tinh gọn sơ khởi được bắt nguồn từ khoảng năm 1799, khi Eli Whitney (1765 - 1825) phát minh ra tính lắp lẫn của chi tiết khi ông ký hợp đồng sản xuất 10.000 súng trường cho quân đội Mỹ với giá thành thấp. Vào những năm cuối của thế kỷ 18 khoản năm 1890, Frederick W. Taylor thực hiện việc quan sát thao tác của từng công nhân và bắt đầu quan tâm tới phương pháp làm việc. Kết quả là định mức thời gian và tiêu chuẩn hóa công việc được hình thành ở bước đầu.
Ông đã đặt tên cho kết quả nghiên cứu của mình là “Phương pháp quản lý khoa học”, chủ yếu gồm: Tiêu chuẩn hóa công việc nhằm chỉ ra cách làm tốt nhất và dễ nhất để thực hiện công việc; Giảm thời gian tạo ra một sản phẩm trong một công đoạn; Nghiên cứu thời gian và thao tác trên công đoạn là một công cụ để thực hiện tiêu chuẩn hóa công việc; Đánh giá phân tích công việc để cải tiến liên tục cách làm 7 việc trên từng công đoạn (Khởi đầu cho chu trình Deming: Plan – Do – Check - Action). Khái niệm áp dụng khoa học cho quản lý đã rất thành công, tuy nhiên Taylor vẫn chưa chú ý tới nghệ thuật quản lý và thái độ đối xử với công nhân. Vào những năm đầu thế kỷ 19, khoảng năm 1910, Henry Ford và đồng nghiệp là Charles E. Sorensen đã cho ra đời một phương pháp sản xuất mới, Ford thiết kế dây chuyền lắp ráp và sản xuất xe hơi theo dòng nguyên liệu liên tục trong suốt quá trình sản xuất, chuẩn hóa các quy trình và loại bỏ các lãng phí một cách tối đa.
Ford được xem như cha đẻ của JIT (Just In Time – vừa đúng lúc) và Quản trị tinh gọn, những sáng kiến của Ford gồm: Giảm thao tác cho công nhân; Sản xuất theo dây chuyền lắp ráp sản phẩm; Dụng cụ đo và dung sai được áp dụng và mở rộng tính lắp lẫn của chi tiết và hiệu quả của nó là giúp cho việc lắp ráp trở nên dễ dàng hơn. Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng sự ra đời của Quản trị tinh gọn sơ khai chính là để áp dụng cho mô hình sản xuất hàng loạt, giúp cải tiến, nâng cao hiệu quả, hiểu xuất cho doanh nghiệp thông qua các công cụ của nó. Và Toyota là công ty đi sau, đã lĩnh hội, phát triển Quản trị tinh gọn lên tới đỉnh cao, làm tiền đề áp dụng Quản trị tinh gọn cho mọi lĩnh vực ngành nghề của nền kinh tế nếu nhà Quản trị biết cách vận dụng hợp lý và phù hợp với thực tiễn. Cho tới ngày nay JIT (Just in time) và TPS (Toyota Production System) là những trụ cột trong hệ thống sản xuất của Toyota.
Toyota đã phát hiện ra và khắc phục được những mâu thuẫn và nhược điểm trong hệ thống sản xuất của Ford, đặc biệt trong cách đối xử và quản lý thiếu tôn trọng người lao động thông qua JIT và TPS. Việc Toyota nghiên cứu và áp dụng thành công hệ thống sản xuất cho riêng mình thì Toyota cũng rất coi trọng và áp dụng lý thuyết chất lượng của W. Edwards Deming, một trong những bậc thầy trong quản lý chất lượng hiện đại về việc cần phải đáp ứng và đáp ứng vượt yêu cầu của Khách hàng là nhiệm vụ của Doanh nghiệp. Deming đã đưa ra khái niệm khách hàng bao gồm khách hàng nội bộ và khách hàng bên ngoài.
Bên cạnh đó, Toyota còn thực hiện cải tiến liên tục theo chu trình PDCA – Chu trình Deming. Tất cả đã tạo lên hệ thống sản xuất Toyota, tập trung vào tạo ra luồng sản xuất liên tục, rút ngắn thời gian sản xuất bằng việc loại 8 bỏ lãng phí có trong từng công đoạn để đạt chất lượng tốt nhất với chi phí thấp nhất, đồng thời mức an toàn và tinh thần làm việc đạt cao nhất.