Chương 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE HOAT DONG QUAN TRI, SAN XUAT NOI DUNG SO Chương 2: THUC TRẠNG HOAT DONG QUAN TRI, SAN XUAT NOI DUNG SO TREN BAO NHAN DAN Chương 3: GIẢI PHAP TANG CƯỜNG HOAT DONG QUAN TRI, SAN XUAT NOI DUNG SO 13 CHUONG 1: NHUNG VAN DE LY LUAN VE HOAT DONG QUAN TRI, SAN XUAT NOI DUNG SO 1.1 Cac khai niém 1.1 Quan tri Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt, định nghĩa “quản trị” là quan ly và điều hành công việc thường ngày (thường về sản xuất, kinh doanh hoặc sinh hoạt) [42, tr. Bên cạnh đó, khái niệm này có thể được giải thích với một sỐ cách hiểu chung. Theo định nghĩa của Harold Koontz thì “Quản trị là thiết lập và duy trì một môi trường mà các cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết qua” [26]. Còn theo James Stoner va Stephen Robbins: “Quản tri là tiễn trình hoạch định, tổ chức, lãnh dao và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt mục tiêu đã dé ra” [8, tr.
Như vậy, có thê hiểu, quản trị là một quá trình mà trong đó có các hoạt động hoạch định, kết nói, hướng dẫn của một (hoặc nhóm) lãnh đạo tới một (hoặc nhóm) người có cùng một mục đích là hoàn thành công việc. Quá trình này huy động sự đóng gop sức lực của các nhân sự. Hoạt động quan tri hướng đến việc tìm kiếm một phương thức phù hợp dé công việc mang lại hiệu quả cao nhất. Các yếu tố của hoạt động quản trị gồm có: Thứ nhất, chủ thé quản trị, đây là nhân tố tao ra hoạt động quản trị lên đối tượng nhận tác động quản trị.
Hoạt động quản tri này có thé diễn ra một hoặc nhiều lần, liên tục hoặc ngắt quãng, cho tới khi hoàn thành công việc. Thứ hai là mục tiêu của hoạt động, được đặt ra cho chủ thé quan tri và đối tượng hướng đến thực hiện. Thứ ba là 14 nguồn lực để hoạt động diễn ra. Hoạt động quản trị được thể hiện băng các bước, gồm có: - Hoạch định: Xác định mục tiêu, phương hướng, lên dự thảo chương trình hành động, tạo lịch trình hành động, đề ra biện pháp kiểm soát, cải tiến, phát triển.
- Tổ chức: xác lập sơ đồ tổ chức, mô tả nhiệm vụ của các bộ phận, xây dựng tiêu chuẩn cho từng công việc. - Lãnh đạo: Thiết lập quan hệ giữa nhân viên và người quản trị, thiết lập quan hệ giữa người quản trị với các t6 chức khác. Nhà quản trị giao việc cho nhân viên dé đạt được mục đích chung. Bằng các phương pháp quản lý, nha quản tri giám sát, giúp nhân viên làm việc hiệu quả.
- Kiểm soát: Xác định được các tiêu chuẩn kiểm tra, lên lịch trình kiểm tra và thực hiện kiểm tra theo các tiêu chuẩn định ra. Đánh giá tình hình, đề ra các biện pháp sửa chữa nếu có. Hoạt động quản trị đã diễn ra từ rất lâu, từ khi có các hoạt động có mối liên hệ giữa các cá nhân mà ở đó có sự phân chia, bồ trí các vị trí trong chuỗi hoạt động.2 Sản xuất Sản xuất: tạo ra của cải, vật chất nói chung; tạo ra vật phẩm cho xã hội bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động [42, tr. Như vậy, hoạt động sản xuất được hiểu là quá trình hình thành nên sản phẩm từ nguồn đầu vào, sử dụng chúng dé tạo ra đầu ra phù hợp với nhu cầu tiêu dùng - hàng hóa hoặc sản phẩm có giá trị đối với người dùng.
Sản xuất, hay thường được hiểu là sản xuất của cải vật chất (bao gồm cả sản xuất các sản phẩm dành cho tinh than) là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người. Dé thực hiện việc sản xuat, từ các lĩnh vực trong doi sông tới lĩnh vực 15 báo chí, chủ thể sản xuất (tòa soạn) cần nhiều yếu tố, tuy nhiên trong đó cần có ba yếu tố cơ bản: - Sức lao động: gồm thể lực và trí lực của người lao động. - Đối tượng lao động: là phần mà người lao động tác động vào nhằm biến đổi nó theo mục đích của mình. - Tư liệu lao động: là một vật hay các vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động của con người lên đối tượng lao động, nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phâm đáp ứng nhu cau của con người.3 Nội dung số Trong giới hạn của luận văn, khái niệm nội dung số được hiểu gồm: Noi dung: mặt bên trong cua sự vật, cái được hình thức chứa đựng hoặc biéu hiện [42, tr.378] Số hóa: chuyển cách biểu diễn tín hiệu (âm thanh, hình ảnh, xung điện.) sang dạng số [42, tr.
Theo định nghĩa từ Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT, thì số hóa được hiểu là việc biến đổi các giá trị thực sang giá trị số hay chuyên đổi thông tin từ dạng vật lý, analog sang dạng kỹ thuật số (được biểu hiện bởi các dãy số nhị phân 0 và 1). Các thông tin được đưa lên hệ thống máy tính va được xử lý bang các phần mềm [16]. Như vậy, nội dung số là các nội dung được số hóa và thé hiện dưới dạng kỹ thuật số. Bên cạnh đó, định nghĩa về khái niệm nội dung số, theo website Unica.vn, đó là: “Nội dung số (hay còn gọi la Digital Content) là những nội dung ton tại ở dạng dữ liệu “số hóa”.
Nội dung s6 được lưu trữ trên kỹ thuật số hoặc lưu trữ trong một định dạng cụ thể trên nên kỹ thuật 50. Các hình thức nội dung số bao gom thông tin được phát kỹ thuật số, truyền phát hoặc chứa trong các tệp máy tính. Nội dung số ton tại dưới nhiều dang từ tệp văn bản, âm thanh và video, đến đồ họa, hình động/hình anh. Thông thường, nội dung số hay nội dung kỹ thuật số là các thông tin được tải 16 lên hoặc có sẵn trên các phương tiện điện tử.
Đề hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu đề tài, luận văn cũng làm rõ thêm một số khái niệm sau: Số hóa quy trình: là hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin vào các quy trình vận hành, giúp quá trình xử lý thông tin trở nên đơn giản hơn, góp phần tăng hiệu suất công việc cho nhân viên và doanh nghiệp. Số hóa và số hóa quy trình là một mắt xích quan trọng trong chuyền đổi số. Người quản lý sử dụng các thông tin đã được số hóa dé nghiên cứu về hành vi khách hang và đưa ra các hình thức tiếp cận phù hợp, tăng doanh thu cho doanh nghiệp [16]. Chuyển đổi số, theo nhận định từ Bộ Thông tin và Truyền thông là quá trình thay đổi tổng thé và toàn diện của cá nhân, tô chức là số hóa toàn bộ cả một t6 chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ SỐ.
Chuyển đổi số có được nhờ sự tiến bộ vượt bậc của những công nghệ mới mang tính đột phá, nhất là công nghệ số. Chuyên đổi số là thay đổi quy trình mới, mô hình tổ chức mới, phương thức cung cấp dịch vụ hoặc cung cấp dịch vụ mới. Trên thế giới, chuyên đổi số bắt đầu được nhắc đến nhiều vào khoảng năm 2015, phổ biến từ năm 2017. Ở Việt Nam, chuyền đổi số bắt đầu được nhắc đến nhiều vào khoảng năm 2018.
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyên đổi số quốc gia vào ngày 03/6/2020 [43]. Trong lĩnh vực Báo chí — Truyền thông, hoạt động chuyển đổi số hướng đến triển khai những thay đổi về tổng thể. Trên nền tảng của khoa học công nghệ, các đơn vị tái cấu trúc cách thức hoạt động (quy trình quản lý, tác nghiệp, mô hình tiếp cận công chúng.) nhằm tạo ra những cơ hội và giá trị mới. Theo góc nhìn của PGS.
Vũ Văn Hà trong bài viết “Báo chí, truyền thông trong xu thế chuyên đổi số” trên tạp trí Tuyên giáo của Ban Tuyên giáo Trung ương thì hoạt động chuyển đổi số trong lĩnh vực Báo chí — Truyền 17 thông diễn ra trên cơ sở dữ liệu và quy trình được số hóa từ môi trường diễn ra các hoạt động liên quan BC-TT, sử dụng các công nghệ số phân tích, đánh giá, đưa ra các quyết định dé thay đổi căn ban cách thức vận hành, mô hình kinh doanh và cung cấp các giá trị mới cho người xem. Đơn vị truyền thông chuyển từ mô hình doanh nghiệp truyền thống sang doanh nghiệp số bang cách áp dụng công nghệ mới như dir liệu lớn (Big Data), Internet cho vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud). để thay đổi phương thức điều hành, lãnh đạo, quy trình làm việc.nhằm tạo những sản phẩm, dịch vụ mới cùng những giá tri và phương thức tiêu dùng mới” [14]. Tổng kết từ những nghiên cứu, ý kiến ghi nhận, chuyên đổi số cho thấy đây là một quá trình tất yếu, sau khi các don vị đã “số hóa” trên nhiều phương diện trong hoạt động thì việc chuyển đôi số sẽ được diễn ra.
Từ đây, việc ứng dụng những hiệu qua của công nghệ khoa học giúp cho đơn vị đổi mới quy trình, cải thiện hiệu suất và giảm các nguồn lực sử dụng, tăng hiệu quả công việc trên phương diện tông quát. Tòa soạn hội tu, trong bai báo Xây dựng tòa soạn hội tụ trong kỷ nguyên 4.0 trên báo Quân đội Nhân Dân, tòa soạn hội tụ được mô tả là sự hợp nhất giữa các phòng (ban) chuyên môn trong cơ quan; các phóng viên, biên tập viên cũng như lãnh đạo cùng làm việc trong một không gian mở trên một mặt phẳng, lay trung tâm sản xuất và phân phối tin tức đa phương tiện làm hạt nhân - nơi có thé giúp lãnh đạo tòa soạn đưa ra “chi thi” nhanh nhất và thong nhất về nội dung đến từng nhân viên trong tòa soạn [36]. Chi tiết hơn, tác giả Igor Vobic ý kiến: "Tòa soạn hội tụ là mô hình tòa soạn có sự tăng cường hợp tác, liên kết và là sự kết hợp của công nghệ, phóng viên và các đội biên tập trước đây vốn bị phân tách (gồm các biên tập viên báo in, phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử), là nơi dé nhà báo quản lý, thu thập, và chia sẻ công việc của mình, phối hợp các hoạt động và thu thập phản hồi từ công 18 chúng. Khi hoạt động theo mô hình toa soạn hội tụ, nhà báo phải có các kỹ năng thực hiện các sản phẩm da phương tiện - bao gom các yếu tô hình ảnh, text, video, âm thanh.