CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở hình thành đề tài Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra sâu rộng, đặc biệt là khi nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng cùng với đó là sự tham gia, gia nhập của Việt Nam vào các tổ chức kinh tế thương mại, hiệp định thương mại trong khu vực và quốc tế ngày càng nhiều. Điều này có tác động không nhỏ đến các công ty doanh nghiệp ở Việt Nam. Để tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả trong hoạt động sản xuất của công ty.
Nâng cao hiệu quả trong hoạt động sản xuất của công ty là một công việc khá phức tạp, đòi hỏi nhà quản lý doanh nghiệp phải biết vận dụng sáng tạo các phương pháp quản lý vào thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp mình. Đồng thời, để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thông suốt thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có kế hoạch sản xuất, quản lý chất lượng và hàng tồn kho một cách hợp lý và hiệu quả nhất. Công ty bao bì Sài Gòn là công ty chuyên sản suất và cung cấp các loại sản phẩm bao bì, nên việc nâng cao, cải thiện hiệu quả hoạt động sản xuất của công ty là một điều vô cùng cần thiết. Xuất phát từ những điều đó, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài “ nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất tại công ty TNHH một thành viên thương mại và bao bì Sài Gòn”.2 Mục tiêu đề tài Qua đề tài này, nhóm muốn tìm hiểu tổng quan về các hoạt động sản xuất của công ty TNHH một thành viên bao bì Sài Gòn.
Từ đó áp dụng những kiến thức đã học được để đưa ra những đề xuất, ý tưởng của nhóm nhằm cải thiện những hạn chế, khuyết điểm của công ty cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất trong lập kế hoạch sản xuất, kiểm soát chất lượng sản phẩm và quản lý tồn kho của công ty.3 Ý nghĩa đề tài Đối với bản thân: Áp dụng những lí thuyết được học vào thực tế, là cơ hội giúp cho bản thân khả Tieu luan năng thu thập dữ liệu, tổng hợp và phân tích dữ liệu. Qua đó nhóm sẽ nhìn rõ được sự khác Tieu luan biệt giữa lí thuyết và thực tiễn, hiểu rõ hơn về các kiến thức quản trị sản xuất đã được học. Từ đó tích lũy thêm được nhiều kiến thức mới và kinh nghiệm cho quá trình làm đồ án tốt nghiệp cũng như công việc sau này. Đối với công ty: Đề tài sẽ cung cấp cho công ty những ý kiến có thể góp phần tăng hiệu quả trong việc sản xuất, có thể chỉ ra được những vấn đề còn tồn đọng trong hoạt động sản xuất của công ty.4 Phạm vi đề tài Đề tài chủ yếu tập trung vào những vấn đề liên quan đến quản lý tồn kho, lập kế hoạch sản xuất và quản lý chất lượng của công ty.
Tieu luan CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 Lập kế hoạch sản xuất 2.1 Khái niệm Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên trong bốn chức năng của quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Lập kế hoạch là chức năng rất quan trọng đối với mỗi nhà quản lý bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trong tương lai. Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các phương thức để đạt được các mục tiêu đó.
Lập kế hoạch nhằm mục đích xác định mục tiêu cần phải đạt được là cái gì và phương tiện để đạt được các mục tiêu đó như thế nào. Tức là, lập kế hoạch bao gồm việc xác định rõ các mục tiêu cần đạt được, xây dựng một chiến lược tổng thể để đạt được các mục tiêu đã đặt ra, và việc triển khai một hệ thống các kế hoạch để thống nhất và phối hợp các hoạt động.2 Vai trò của lập kế hoạch sản xuất Các nhà quản lý cần phải lập kế hoạch bởi vì lập kế hoạch cho biết phương hướng hoạt động trong tương lai, làm giảm sự tác động của những thay đổi từ môi trường, tránh được sự lãng phí và dư thừa nguồn lực và thiết lập nên những tiêu chuẩn thuận tiện cho công tác kiểm tra. Hiện nay, trong cơ chế thị trường có thể thấy lập kế hoạch có các vai trò rất to lớn đối với các doanh nghiệp: Kế hoạch là một trong những công cụ có vai trò quan trọng trong việc phối hợp nỗ lực của các thành viên trong một doanh nghiệp. Lập kế hoạch cho biết mục tiêu và cách thức đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.
Khi tất cả nhân viên trong cùng một doanh nghiệp biết được doanh nghiệp mình sẽ đi đâu và họ sẽ cần phải đóng góp gì để đạt được mục tiêu đó, thì chắc chắn họ sẽ cùng nhau phối hợp, hợp tác và làm việc một cách có tổ chức. Lập kế hoạch có tác dụng làm giảm tính bất ổn định của doanh nghiệp, hay tổ chức. Sự bất ổn định và thay đổi của môi trường làm cho công tác lập kế hoạch trở thành tất yếu và rất cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp, mỗi nhà quản lý. Lập kế hoạch buộc Tieu luan những nhà quản lý phải nhìn về phía trước, dự đoán được những thay đổi trong nội bộ doanh nghiệp cũng như môi trường bên ngoài và cân nhắc các ảnh hưởng của chúng để đưa ra những giải pháp ứng phó thích hợp.
Lập kế hoạch làm giảm được sự chồng chéo và những hoạt động làm lãng phí nguồn lực của doanh nghiệp. Khi lập kế hoạch thì những mục tiêu đã được xác định, những phương thức tốt nhất để đạt mục tiêu đã được lựa chọn nên sẽ sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả, cực tiểu hoá chi phí bởi vì nó chủ động vào các hoạt động hiệu quả và phù hợp. Lập kế hoạch sẽ thiết lập được những tiêu chuẩn tạo điều kiện cho công tác kiểm tra đạt hiệu quả cao. Một doanh nghiệp hay tổ chức nếu không có kế hoạch thì giống như là một khúc gỗ trôi nổi trên dòng sông thời gian.
Một khi doanh nghiệp không xác định được là mình phải đạt tới cái gì và đạt tới bằng cách nào, thì đương nhiên sẽ không thể xác định được liệu mình có thực hiện được mục tiêu hay chưa và cũng không thể có được những biện pháp để điều chỉnh kịp thời khi có những lệch lạc xảy ra. Do vậy, có thể nói nếu không có kế hoạch thì cũng không có cả kiểm tra. Như vậy, lập kế hoạch quả thật là quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, mỗi nhà quản lý. Nếu không có kế hoạch thì nhà quản lý có thể không biết tổ chức, khai thác con người và các nguồn lực khác của doanh nghiệp một cách có hiệu quả, thậm chí sẽ không có được một ý tưởng rõ ràng về cái họ cần tổ chức và khai thác.
Không có kế hoạch, nhà quản lý và các nhân viên của họ sẽ rất khó đạt được mục tiêu của mình, họ không biết khi nào và ở đâu cần phải làm gì. Tóm lại, chức năng lập kế hoạch là chức năng đầu tiên, là điểm xuất phát của mọi quá trình quản lý. Bất kể là cấp quản lý cao hay thấp, việc lập ra được những kế hoạch có hiệu quả sẽ là chiếc chìa khoá cho việc thực hiện một cách hiệu quả những mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp.3 Đối tượng và phạm vi của hoạch định tổng hợp Hoạch định là một trong những chức năng của nhà quản trị sản xuất và điều hành. Hoạch định tổng hợp là xác định số lượng sản phẩm và phân bố thời gian sản xuất cho một tương lai trung hạn, thường từ 3 tháng đến 18 tháng.
Để đáp ứng nhu cầu trung Tieu luan hạn Tieu luan đã được dự báo, nhà quản trị tác nghiệp phải tìm ra cách tốt nhất nhằm biến đổi mức sản xuất phù hợp với mức nhu cầu và đạt hiệu quả cao. Đối tượng của hoạch định tổng hợp là sự biến đổi khả năng sản xuất, đó chính là khả năng của một hệ thống sản xuất cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ cho thị trường. Khả năng sản xuất của hệ thống này phụ thuộc vào nhiều yếu tố sau: - Khả năng sản xuất của nhà xưởng và máy móc thiết bị. - Khả năng sản xuất của lực lượng lao động ở đơn vị hiện có.
- Khả năng làm thêm giờ của công nhân lao động. - Khả năng liên kết hợp đồng với các đơn vị bên ngoài. - Sự chuẩn bị sẵn sàng về vật tư, nguyên liệu cho sản xuất.4 Các lựa chọn cơ bản về nhu cầu sản xuất Các chiến lược lập kế hoạch tổng hợp có thể được phân loại gồm chiến lược chủ động, thụ động, và kết hợp. Chiến lược chủ động liên quan đến các lựa chọn về nhu cầu: Thay đổi nhu cầu để phù hợp với sản xuất.
Chiến lược thụ động liên quan đến các lựa chọn về sản xuất: Thay đổi sản xuất để phù hợp với nhu cầu. Chiến lược kết hợp liên quan đến các yếu tố của cả hai phương pháp.1 Các lựa chọn cơ bản về nhu cầu Giá Thay đổi giá bán thường được sử dụng để chuyển nhu cầu lúc cao điểm đến những thời điểm khác. Bằng cách thay đổi giá bán nhu cầu sẽ được dịch chuyển theo hướng gần hơn với sản xuất. Xúc tiến thương mại Quảng cáo và những hình thức khác của xúc tiến thương mại.
Thời điểm tiến hành, hiểu biết về mức độ phản ứng và kiểu phản ứng của thị trường là chìa khóa để đạt được kết quả mong muốn. Không giống như phương pháp giá cả, xúc tiến thương mại có thể làm tình hình công ty tồi tệ thêm bởi vì phương pháp này ít có sự kiểm soát hơn về thời điểm xảy ra nhu cầu. Tieu luan Giao hàng chậm Một tổ chức có thể dịch chuyển nhu cầu đến thời điểm khác bằng cách cho phép áp dụng giao hàng chậm. Có nghĩa là, các đơn đặt hàng sẽ được chấp thuận tại một thời điểm, cam kết giao hàng thì tại một thời điểm khác chậm hơn.
Sự thành công của phương pháp này phụ thuộc vào việc khách hàng phản ứng như thế nào với việc chờ đợi nhận hàng. Chi phí liên quan đến giao hàng chậm gồm mất doanh số bán hàng, khách hàng thất vọng hoặc bực bội, và có thể tăng khối lượng giấy tờ cần xử lý.2 Các lựa chọn cơ bản về sản xuất Tuyển thêm và sa thải nhân viên Thay đổi số lượng nhân viên sẽ tác động đến sản xuất. Một yếu tố lưu ý là các yêu cầu về nguồn lực vật chất cho từng nhân viên.