Đặt vấn đề Công nghiệp sản xuất chế tạo (manufacturing) được xem như trụ cột giúp các quốc gia và nền kinh tế nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững. Tại Việt Nam, công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp ngày càng nhiều trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp với mức tỷ trọng đạt 89,2% trong năm 2010. Sự phát triển của lĩnh vực sản xuất này sẽ kéo theo sự gia tăng xuất khẩu, thúc đẩy tiêu dùng trong nước, và phụ trợ cho sự phát triển của các ngành kinh tế khác. Tuy nhiên, trình độ công nghệ trong sản xuất công nghiệp nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém.
Bên cạnh sự hạn chế về đầu tư nâng cao phát triển trình độ công nghệ trong sản xuất, rất nhiều doanh nghiệp còn thiếu các kỹ năng tổ chức, quản trị trong toàn bộ các hoạt động cơ bản của chu trình sản xuất, kinh doanh. Việc xây dựng và áp dụng các hệ thống quản trị tiên tiến tại các doanh nghiệp sản xuất đã trở thành một nhu cầu thiết yếu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh thông qua quản trị một cách hiệu quả các nguồn lực đầu vào bao gồm cả các nguồn vốn vật chất và thiết bị máy móc công nghệ. Tại Việt Nam, mặc dù sự yếu kém về quản trị của lĩnh vực sản xuất công nghiệp đã được chỉ ra và bàn bạc từ lâu, nhưng khoảng cách giữa hệ thống quản trị tại các công ty sản xuất chế tạo, đặc biệt là các công ty nội địa chưa được nghiên cứu một cách bài bản, hệ thống, dựa trên các chuẩn mực thế giới. Các câu hỏi đặt ra là: 2 - Đánh giá một cách toàn diện theo các chuẩn mực quốc tế, hiện trạng hệ thống quản trị và thực hành quản trị của các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất chế tạo Việt Nam đang ở đâu? - Các yếu tố quản trị nào đang tác động đến các kết quả sản xuất về chất lượng, thời gian, và chi phí, tính linh hoạt tại các doanh nghiệp sản xuất chế tạo tại Việt Nam? - Trong bối cảnh môi trường kinh doanh tại Việt Nam, với các đặc điểm về cơ sở vật chất còn hạn chế, sự cạnh tranh gay gắt của Trung Quốc, Thái Lan và các đối thủ khác, mô hình quản trị nào với các cấu phần nào và cách thức triển khai nào là phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất chế tạo tại Việt Nam? Để trả lời cho các câu hỏi trên, việc vận dụng các mô hình tiên tiến của thế giới vào nghiên cứu và triển khai tại Việt Nam sẽ có một ý nghĩa rất quan trọng cả về mặt khoa học lẫn thực tiễn, đồng thời làm cơ sở giúp các doanh nghiệp nâng cao chất lượng, giảm chi phí, rút ngắn thời gian tác nghiệp, nâng cao sự linh hoạt trong sản xuất, gấp phần nâng cao năng suất chất lượng và sức cạnh tranh, hướng tới phát triển bền vững.
Xuất phát từ các yêu cầu thực tế khách quan nêu trên, trước tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước, đề tài nghiên cứu xây dựng mô hình quản trị sản xuất hiệu suất cao; đánh giá thực trạng hoạt động quản trị của một số doanh nghiệp sản xuất chế tạo thuộc lĩnh vực công nghiệp trọng điểm cũng như đưa ra một số gợi ý cho việc ứng dụng mô hình quản trị sản xuất hiệu suất cao tại Việt Nam. Mục tiêu Mục đích tổng quát của đề tài là vận dụng một cách sáng tạo các tư tưởng, mô hình hệ thống và chỉ số vận hành của mô hình sản xuất hiệu suất cao - HPM vào hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam nhằm đánh giá thực trạng doanh nghiệp sản xuất chế tạo Việt Nam theo chỉ số HPM và xây dựng đề xuất mô hình quản trị sản xuất hiệu suất cao theo hướng HPM tại một số doanh nghiệp sản xuất chế tạo thuộc lĩnh vực công nghiệp trọng điểm, góp phần nâng cao năng suất chất lượng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, hướng tới phát triển bền vững. Để hoàn thành được mục tiêu tổng quát này, đề tài hướng tới các mục tiêu cụ thể như sau: - Tổng quát các lý luận nền tảng mô hình HPM và các nghiên cứu ứng dụng mô hình HPM tại các nước kể từ sau 2000 nhằm làm rõ cơ sở lý luận, các đặc điểm, tính khả thi, ứng dụng và hiệu quả áp dụng HPM trên phạm vi toàn thế giới - Đánh giá hiện trạng hoạt động quản trị tác nghiệp, quản trị sản xuất tại một số doanh nghiệp sản xuất chế tạo thuộc lĩnh vực công nghiệp trọng điểm ở Việt Nam theo khung 3 chỉ tiêu HPM nhằm nhận dạng các điểm mạnh, yếu trong hệ thống quản trị các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam cũng như tác động của hệ thống quản trị tới kết quả hoạt động - Xây dựng và đề xuất mô hình quản trị hiệu suất cao theo hướng tiếp cận HPM phù hợp với đặc thù và tình hình hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất chế tạo thuộc lĩnh vực công nghiệp trọng điểm Việt Nam. Mô hình sẽ bao gồm các yếu tố chiến lược sản xuất và kinh doanh; thiết kế sản phẩm, quản trị chuỗi cung ứng, sản xuất tinh gọn, chất lượng, bảo dưỡng tổng hợp, phát triển nhân lực, trách nhiệm xã hội và quản trị môi trường - Áp dụng thí điểm mô hình vào một số doanh nghiệp điểm để đánh giá tính khả thi, ứng dụng và hoàn chỉnh mô hình, đồng thời chỉ ra lộ trình và phương pháp triển khai áp dụng mô hình quản trị hiệu suất cao theo hướng tiếp cận HPM phù hợp với đặc thù doanh nghiệp Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau: a. Tổng hợp tài liệu: Những tài liệu trong và ngoài nước nghiên cứu về hệ thống quản trị tác nghiệp, quản trị sản xuất, quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất chế tạo được thu thập, dịch thuật và tổng hợp lại nhằm đưa ra một khung lý thuyết tương đối đầy đủ về mô hình quản trị theo hướng tiếp cận HPM b. Điều tra khảo sát: Trong giai đoạn 2013-2014, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát một số doanh nghiệp sản xuất thuộc các lĩnh vực trọng điểm tại Việt Nam như điện/điện tử, cơ khí chế tạo máy, lắp ráp ô tô. Các doanh nghiệp tham gia khảo sát cần đảm bảo có hệ thống quản lý được đánh giá và cấp chứng nhận phù hợp với các yêu cầu của 2 tiêu chuẩn ISO 9000 và ISO 14000.
Với sự giúp đỡ của Bộ Khoa học và Công nghệ, tổng cộng 86 doanh nghiệp được lựa chọn và mời tham gia khảo sát. Bảng hỏi theo chuẩn HPM đã được gửi tới 12 cán bộ quản trị phụ trách các bộ phận chức năng (kế hoạch, kỹ thuật, sản xuất, chất lượng, nhân lực.) của từng doanh nghiệp. Trong số 86 phản hồi từ các doanh nghiệp, có 25 bản trả lời thực sự đầy đủ hoàn chỉnh các hạng mục theo khung HPM được sử dụng nhập với dữ liệu khảo sát HPM từ 280 doanh nghiệp từ 10 quốc gia khác để phân tích so sánh. Trong số 25 doanh nghiệp phản hồi đầy đủ, đa số nằm trong lĩnh vực điện tử, điện máy (40%).
Vận tải và chế tạo máy đóng góp phần nhỏ hơn, lần lượt là 32% và 24%. Quy mô bình quân của các doanh nghiệp là 1.266 nhân viên, với doanh thu bình quân đạt 16 triệu USD. Phương pháp xử lý số liệu: Thông tin thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS. Thang đo sau khi được đánh giá bằng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy bội, phương pháp phân tích SEM (Structural Equation Modelling) được sử dụng để kiểm định mô hình nghiên cứu.
Tổng kết kết quả nghiên cứu Đề tài đã đạt được các kết quả nghiên cứu như sau: a. Cung cấp luận cứ khoa học và tổng kết các kinh nghiệm quốc tế về mô hình sản xuất hiệu suất cao HPM Trên cơ sở tổng kết hơn 200 nghiên cứu chủ yếu là ngoài nước trong giai đoạn 1980- 2017, nhóm nghiên cứu rút ra một số kết luận khoa học như sau : Mô hình HPM bắt nguồn từ khái niệm sản xuất đẳng cấp thế giới (World Class Manufacturing - WCM) được đưa ra từ thập niên 1980 do Hayes và Wheelwright (1984) đề xuất và Schonberger (1986) phát triển sau khi quan sát các doanh nghiệp nổi bật tại Mỹ, Nhật Bản, Đức để tìm ra các điểm chung của những doanh nghiệp này. Khác với các mô hình quản trị như Quản lý chất lượng toàn diện (TQM), Vừa đúng lúc (JIT), 6 Sigma…, cách tiếp cận của mô hình HPM là sự tích hợp các hệ thống quản trị đồng thời trong một mô hình bao gồm các lĩnh vực như xây dựng và triển khai chiến lược sản xuất và kinh doanh, thiết kế sản phẩm, quản trị chuỗi cung ứng, sản xuất tinh gọn, chất lượng, bảo dưỡng tổng hợp, phát triển nhân lực, trách nhiệm xã hội và quản trị môi trường… Trên cơ sở phân tích hoạt động sản xuất hiệu suất cao tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ giai đoạn 2000 – 2010 và so sánh với nghiên cứu của Roger G. Flynn (2001) tổng kết các kinh nghiệm thành công trong quản trị doanh nghiệp sản xuất của Nhật Bản, Hoa Kỳ, Đức trong những năm 1980-1990, nhóm nghiên cứu rút ra các đặc trưng của hoạt động sản xuất hiệu suất cao như sau: - Không có mô hình toàn cầu & hệ thống quản trị sản xuất nào đúng cho mọi tổ chức.
Các tổ chức có cấu trúc và quá trình khác nhau, phụ thuộc vào đặc thù thị trường và môi trường hoạt động (các biến ngẫu nhiên). - Bên cạnh việc áp dụng các hệ thống quản trị theo tiêu chuẩn như ISO 9000, 14000, để đảm bảo tính hệ thống, cần chú trọng đến việc áp dụng các hoạt động thực hành thường nhật (daily practices. Nếu như việc áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn sẽ tạo ra nền tảng 5 chung cho doanh nghiệp, việc lựa chọn đúng các hoạt động thực hành sẽ tạo ra các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. - Cùng một mô hình, hoạt động và kỹ thuật quản trị áp dụng tại các mô hình khác nhau sẽ tạo ra các kết quả khác nhau phụ thuộc vào điều kiện hoạt động.
Các nhà quản trị phải lựa chọn các hệ thống và hoạt động thực hành theo đặc thù của tổ chức. Thứ tự áp dụng các hoạt động, trình tự, cách thức áp dụng các hoạt động sẽ tạo ra các kết quả khác nhau về chất lượng sản phẩm, giá thành và tiến độ giao hàng.