Chương 1 CƠ SO LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VAN DE QUAN TRI TO CHUC SAN XUAT AN PHAM BAO IN 1. Những khái niệm cơ bản được sử dụng trong luận văn 1. Báo in và đặc điểm của báo in - Khái niệm về báo in Báo in là loại hình báo chí sw dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in dé phat hanh dén ban doc, gốm báo in, tạp chí in.103] Báo in ra đời sớm nhất trong các thé loại báo chí khác, được phát hành với quy mô lớn. Từ năm 1447, với sự ra đời của công nghệ in đã đặt nền móng cho sự phát triển vượt bậc của báo in.
Nửa đầu thé kỷ XVII, báo in đã được xuất bản thường xuyên với lượng doc rất lớn. Đến cuối thé kỷ XVII thì nội dụng của các tờ báo in đã thay đôi rất nhiều, nhất là về mặt nội dung. Tới năm 1844 với sự ra đời của máy điện báo thì chính là là lúc đánh dấu sự thay đổi của ngành báo in. - Đặc điểm của báo in Báo in có ưu điểm so với các loại hình báo chí khác đó là thông tin luôn chính xác, đảm bảo khách quan.
Việc biên tập, kiểm duyệt cũng khắt khe và kỹ lưỡng. Về đặc điểm của báo in, ngoài những đặc điểm chung của các loại hình báo chí khác, báo in còn có 8 đặc trưng riêng bao gồm: tính đại chúng, tính đa dạng, tính chính xác, tính cụ thể, tính ngắn gọn - súc tích, tính bình giá, tính khuôn mẫu và tính thâm mỹ. Định kỳ của báo in có nhiều mức độ khác nhau như: hàng ngày, hàng tuần. Tính định kỳ của báo in chính là sự xuất hiện theo chu kỳ đều đặn và tương đối ôn định của sản phâm báo.
Chu kỳ xuất hiện có ý nghĩa quan trọng xác định thời điểm mà công chúng đón nhận sản phẩm thời điểm nao. Tính định kỳ của báo in thường ồn đinh. Báo in có thé thông tin, giải thích, phân tích và giải đáp những van đề phức tạp một cách hệ thống, sâu sắc với tính chân thực, độ chính xác và tin cậy cao. Bên cạnh đó, người đọc báo In có thé hoàn toàn chủ động về thời gian, không gian,va tu 13 thế trong việc tiếp nhận thông tin.
Mặt khác, độc giả có thể đọc nhiều lần một tác phẩm để hiểu rõ và khai thác các tầng lớp thông tin về những vấn đề phức tạp. Người làm báo in cần có kiến thức chuyên sâu và tính chuyên nghiệp cao. Báo in là sản phẩm báo chí hữu hình, có tính lưu giữ và bảo quản. Mỗi kỳ phát hành báo như một cuốn lịch da mau sắc, thé hiện muôn mặt của cuộc sống.
Báo cũng là sản phẩm có thé dé dàng chuyên tay nhau, do đó, nó giúp lan tỏa thông tin dễ dang và góp phan tạo ra liên kết xã hội. Đề tài và nguồn thông tin trên báo in có thé là nguồn tài nguyên phong phú cho các loại hình báo chí khác khai thác. Với những yêu cầu khắt khe đòi hỏi những người làm báo in phải chuyên nghiệp, có tư duy logic, khả năng quan sát và vốn ngôn từ rộng mở. Báo in cũng có những mặt hạn chế nhất định.
Đó là thông tin chậm và không có tính thời sự. Đây là điều khó tránh khỏi, khi mà chu kỳ từ lúc lên bài, duyệt xuất bản ra thành phâm hiện nay mat khá nhiều thời gian. Trong khi trong thời đại công nghệ số, sự hỗ trợ tối đa của kỹ thuật cùng với các công cụ hỗ trợ thì tin tức được cập nhật trên báo điện tử theo từng phút, từng giây. Mặt khác báo in có tính hấp dẫn không cao khi cách trình bày đơn điệu, không kích thích các giác quan của độc giả.
Bên cạnh đó, chi phí nguyên vật liệu đầu vào cao dẫn đến việc phát hành báo in giá thành cao, dẫn đến thu không đủ bù chi. Trong khi đó, với loại hình báo điện tử, phát thanh, truyền hình công chúng có thé truy cập miễn phí bat cứ thời gian, dia điểm, không gian nào, miễn là có thiết bị kết nối mạng. Với nghiên cứu và thống kê, PGS. Nguyễn Văn Dững đưa ra thông tin khảo sát thực tế: Từ đầu thé kỷ XXI, nhiều tờ báo in trên thé giới đã bị sụt giảm số lượng ban in nhanh chóng.
Ví dụ: nhật báo Mỹ International Herald Tribune giảm hơn 14 %. Ở Mỹ, trong những năm 2000-2010, riêng ngành báo in đã có 10.000 nhân viên bi sa thải, chiếm hơn 6 % chỗ lẫn việc. tờ Le Monde Diplomatique (Pháp) giám 2 % lượng phát hành trong năm 2004 và hơn 20 % trong năm 2010; Trong cuộc suy thoái kinh tế toàn 30 cầu từ năm 2007 đến nay, nhiều tờ báo in sụt giảm, phá sản; lao động mắt việc làm tăng cao. Một số tờ báo in chạy theo tin thị trường, đã tự đánh mất năng lực lựa chọn và phân tích thông tin để thuyết phục và thu phục công chúng của mình.
Ở bất kỳ thời điểm nào, báo in vẫn là tâm của các phương tiện truyền thông đại chúng, mà quanh nó, các loại hình khác tiên bộ, đôi mới và phát triên đa dạng. Tòa soạn báo chí Luật Báo chí không đề cập cụ thê khái niệm tòa soạn báo chí. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu có thể hiểu tòa soạn báo chí chính là cơ quan báo chí. Đinh Văn Hường trong cuốn Tổ chức và hoạt động tòa soạn (2017) cho rang: Tòa soạn báo chí là cơ quan do Đảng, chính quyên, các tô chức và đoàn thé xã hội lập ra dé xuất bản báo chi theo quy định của pháp luật.
Đó là cơ quan ngôn luận của một tổ chức nhất định, thực hiện tôn chỉ, mục đích nhiệm vụ do tổ chức đó đặt ra bằng những phương tiện và biện pháp đặc biệt. Trương Thị Kiên trong cuốn: Lao động nhà báo và quản trị tòa soạn báo chí (2016) thì Tòa soạn báo chí là thuật ngữ dé chỉ không gian biên tập, tô chức trang báo hoặc tô chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình. Là nơi sản xuất, phát hành, phát sóng ấn pham/chuong trình, là cơ quan báo chí với đầy đủ các yếu tố về nhân lực, vật lực và điều kiện vận hành. Theo đó, khi nói đến tòa soạn báo chí là nói đến một tổ chức chính trị xã hội được thành lập dé thực hiện chức năng thông tin đại chúng.
Mỗi cơ quan bdo chí là cơ quan ngôn luận của một tổ chức, cơ quan, được đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, Nhà nước, là diễn đàn ngôn luận của quan chúng nhân dân [28]. Quản tri - Khdi niém vé Quan tri Có rat nhiều khái niệm được đưa ra dé giải thích cho khái niệm quan trị, quản trị học là gì. Thuật ngữ được giải thích bằng nhiều cách khác nhau, thường biết nhiều đến quản tri nhân sự, quản tri kinh doanh,. Một số định nghĩa phổ biến về quản trị đó là: Theo Harold Koontz va Cyril O’Donnell: Quản trị là thiết lập và duy trì một môi trường mà các cá nhân làm việc với nhau trong nhóm có thé hoạt động hiệu quả.
Theo James Stoner và Stephen Robbins, khái niệm quản trị là tiễn trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát hoạt động của các thành viên trong tô chức và sử dụng tat cả các nguồn lực khác dé đạt được các mục tiêu đề ra. Con theo Robert Albanese thì quản tri là một quá trình xã hội và kỹ thuật nhằm sử dụng các nguon, tac động tới hoạt động của con người, tao điều kiện thay đổi dé đạt được các mục tiêu của tô chức. 15 Từ điển Tiếng Việt thì định nghĩa: Quản trị là quản lý và điều hành công việc thường ngày. Quản trị bao gồm hai hoạt động cơ bản: quản lý và điều hành [48.
Vậy có thé hiểu: Quản trị là lãnh đạo,tổ chức và điều hành những hoạt động của các thành viên trong một tổ chức nhằm đạt được kết quả đã đề ra. Quản trị là sự phối hợp đề đạt được hiệu quả trong các hoạt động của người cùng chung trong tổ chức. Đây là quá trình để đạt được các mục tiêu đề ra bằng việc phối hợp nguồn lực của tô chức. Quản trị còn là quá trình các nhà quản lý hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra.
Như vậy, thực chất hoạt động quản trị bao gồm các bước: lập kế hoạch, phân công, điều khiển và kiểm soát các hoạt động của cá nhân, tô chức và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác đề đạt được mục tiêu đề ra. - Bản chất của quản trị Bản chất của quản trị chính là tìm ra phương thức phù hợp, giúp mọi người trong tô chức thực hiện công việc đạt hiệu quả tối ưu nhất với chi phí hợp lý nhất. Hoạt động quản trị cần đáp ứng đủ các điều kiện cơ bản như sau: + Có chủ thé quản trị: Day là thành tố trực tiếp tạo ra các tác động quản trị. Thành tố này phải ra những quyết định đủ mạnh, đủ sức thuyết phục để các đối tượng bi quản tri tuân theo.
+ Có đối tượng bị quan trị: Đây là yếu tố chịu tac động trực tiếp của chủ thé quản tri. Đối tượng bị quản trị có thể là một hoặc nhiều người, diễn ra ở một hoặc nhiều lần liên tục. + Có mục tiêu cho ca chủ thê và đối tượng: Đây là căn cứ dé chủ thé quản trị tạo ra các yêu tố tác động trực tiếp đến các đối tượng. + Có nguồn lực: Đây chính là công cụ giúp chủ thé quan trị vận dụng, khai thác trong quá trình quản tr.
- Vai tro cua quan trị: Quan tri có vai trò quan trọng va to lớn trong việc bao dam sự ton tại và hoạt động bình thường tô chức. Một nghiên cứu của Ngân hàng châu Mỹ đã nêu trong bản công bố Báo cáo về kinh doanh cho rằng: “Theo kết quả phân tích cuối cùng, 16 hơn 90% các that bại trong kinh doanh là do thiếu năng lực và thiểu kinh nghiệm quản trị ”. Quản trị có khả năng sáng tạo phi thường. Điều đó có nghĩa là cùng với các điều kiện như nhau về con người và vật chất kỹ thuật nhưng quản trị lại có thê khai thác khác nhau, đem lại hiệu quả kinh tế hoàn toàn khác nhau.
Nói cách khác, với những điều kiện về nguồn lực như nhau, quản lý tốt sẽ phát huy hiệu quả, tạo ra những kết quả kinh tế - xã hội mong muốn, còn quản lý không tốt sẽ không khai thác được, thậm chí làm hỏng một cách vô ích những nguồn lực có được, dẫn đến tôn thất.