Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và cạnh tranh thị trường ngày càng gia tăng, việc kiểm soát chi phí và ngăn ngừa thất thoát do biến cố bất lợi trở thành yêu cầu thiết yếu đối với các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh dược phẩm. Thực tế tại Việt Nam cho thấy phần lớn các doanh nghiệp chưa đầu tư nguồn lực thỏa đáng cho hoạt động quản trị rủi ro và thiếu quy trình kiểm soát mang tính đồng bộ, dẫn đến nguy cơ bị động trước các biến động tiêu cực từ môi trường bên trong lẫn bên ngoài. Tại Công ty Cổ phần Dược Bình Lục, công tác quản trị rủi ro đã bước đầu được quan tâm nhưng hiệu quả triển khai thực tế còn bộc lộ nhiều hạn chế. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận tốt nghiệp tập trung nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động này tại doanh nghiệp.

Khóa luận xác định mục đích nghiên cứu hướng tới bốn nhiệm vụ cụ thể được đánh số như sau:

  1. Hệ thống hóa lý luận chung về rủi ro và quản trị rủi ro trong các doanh nghiệp.
  2. Làm rõ thực trạng công tác quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần Dược Bình Lục.
  3. Tìm ra những kết quả đạt được, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại trong thực tiễn hoạt động quản trị rủi ro của Công ty Cổ phần Dược Bình Lục.
  4. Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần Dược Bình Lục.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản trị rủi ro trong sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực tế tại Công ty Cổ phần Dược phẩm Bình Lục (Tiểu khu Bình Thắng, thị trấn Bình Mỹ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam).
  • Phạm vi thời gian: Các dữ liệu, số liệu thứ cấp phục vụ phân tích thực trạng được thu thập và giới hạn trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014; định hướng phát triển và kế hoạch kinh doanh được tác giả khảo sát đến năm 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên các khái niệm, nguyên tắc và quy trình quản trị rủi ro doanh nghiệp chuẩn mực được giảng dạy trong khối ngành Quản trị kinh doanh.

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Khái niệm rủi ro: Tác giả trích dẫn quan điểm của Allan Willett (1995) trong tác phẩm Risk and Insurance (rủi ro là bất trắc cụ thể đến một biến cố không mong đợi) và quan điểm của Nguyễn Hữu Thân (1991) trong Phương pháp mạo hiểm và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh (rủi ro là sự bất trắc gây ra mất mát, thiệt hại).
  • Khái niệm và quy trình quản trị rủi ro: Quản trị rủi ro được tiếp cận như một quá trình liên tục và có hệ thống gồm 5 mắt xích cơ bản: (1) Nhận dạng rủi ro; (2) Phân tích rủi ro; (3) Đo lường rủi ro; (4) Kiểm soát rủi ro; (5) Tài trợ rủi ro.
  • Nguyên tắc quản trị rủi ro: Quản trị rủi ro phải hướng vào mục tiêu của tổ chức, gắn liền với trách nhiệm của nhà quản trị và gắn với toàn thể tổ chức.
  • Phân loại rủi ro: Bao gồm rủi ro bên trong (rủi ro tổ chức quản lý, chiến lược, tài sản/tài chính, nhân lực, thương hiệu) và rủi ro bên ngoài (rủi ro bất khả kháng, pháp lý, thị trường, kinh tế, tự nhiên, kỹ thuật công nghệ, xã hội).

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận kết hợp đồng thời phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp cùng kỹ thuật phân tích thống kê mô tả:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Sưu tập các tài liệu nội bộ từ Phòng Kinh doanh, Phòng Kế hoạch, Phòng Kế toán - Tài chính, Phòng Kỹ thuật; báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2012 - 2014 của Công ty Cổ phần Dược Bình Lục; số liệu kinh tế từ tạp chí chuyên ngành.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
    • Điều tra bảng hỏi trắc nghiệm: Phát phiếu khảo sát gồm 10 câu hỏi chia làm 2 phần (Quan điểm về quản trị rủi ro; Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro) tới cán bộ công nhân viên (CBCNV) công ty. Số phiếu phát ra: 10 phiếu, thu về hợp lệ: 10/10 phiếu (tỷ lệ 100%).
    • Phỏng vấn sâu: Xây dựng phiếu phỏng vấn gồm 8 câu hỏi dành cho các nhà quản trị/lãnh đạo doanh nghiệp để làm rõ các nguy cơ rủi ro và định hướng kiểm soát.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích định tính và định lượng, so sánh chuỗi số liệu theo thời gian để tính toán tần suất xuất hiện, đo lường giá trị tổn thất tài chính và xếp hạng mức độ ưu tiên giữa các yếu tố.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro và quản trị rủi ro của doanh nghiệp

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận nền tảng. Tác giả trình bày các khái niệm cơ bản về rủi ro và quản trị rủi ro, khẳng định vai trò của công tác này trong việc giảm thiểu chi phí tổn thất, ổn định vị thế doanh nghiệp và hỗ trợ ra quyết định kinh doanh.

Chương này phân tích chi tiết 5 nội dung cốt lõi của quy trình quản trị rủi ro:

  • Nhận dạng rủi ro: Phương pháp bảng kiểm tra liệt kê, phân tích báo cáo tài chính, thanh tra hiện trường, nghiên cứu hợp đồng và phân tích dữ liệu quá khứ.
  • Phân tích rủi ro: Phân tích mối hiểm họa, phân tích nguyên nhân (chủ quan, khách quan) và phân tích các dạng tổn thất tiềm tàng.
  • Đo lường rủi ro: Xác định mức độ nghiêm trọng của tổn thất (giá trị tiền tệ), tần suất xuất hiện rủi ro và chi phí liên quan; kết hợp phương pháp trực tiếp, gián tiếp, định tính, phân tích tổng hợp và dự báo tổn thất.
  • Kiểm soát rủi ro: Các biện pháp né tránh rủi ro, ngăn ngừa rủi ro, giảm thiểu tổn thất, chuyển giao rủi ro và đa dạng hóa rủi ro.
  • Tài trợ rủi ro: Tự khắc phục (chủ động qua quỹ dự phòng/tự bảo hiểm, bị động) và chuyển giao tài chính thông qua bảo hiểm thương mại.

Chương 1 cũng làm rõ hai nhóm nhân tố tác động tới quản trị rủi ro: nhóm nhân tố khách quan (chính trị, pháp lý, kinh tế, tự nhiên, kỹ thuật công nghệ, xã hội) và nhóm nhân tố chủ quan (tình hình tài chính, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, nhận thức của nhà quản trị và người lao động).

Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro của Công ty Cổ phần Dược Bình Lục

Chương 2 giới thiệu tổng quan về Công ty Cổ phần Dược phẩm Bình Lục (thành lập năm 1995, chuyển đổi năm 1997, chính thức vận hành mô hình sản xuất từ năm 2003; vốn điều lệ năm 2013 ghi nhận 1.762 triệu đồng; tổng số 204 lao động trong đó có 32 người trình độ đại học chuyên ngành Dược hoặc đại học khác; sản xuất và phân phối hơn 200 sản phẩm). Kết quả hoạt động kinh doanh 2012 - 2014 có sự biến động: doanh thu thuần năm 2012 đạt 14,8 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 54,85 triệu đồng; tuy nhiên lợi nhuận có chiều hướng giảm trong giai đoạn 2013 - 2014 do áp lực chi phí và ảnh hưởng suy thoái kinh tế.

Dựa trên số liệu sơ cấp và thứ cấp, thực trạng quản trị rủi ro tại công ty được làm rõ qua các phát hiện chính:

  • Nhận thức nội bộ: 100% người được điều tra nhận định quản trị rủi ro rất quan trọng, nhưng 60% chưa nhận thức rõ hành vi/thái độ cá nhân có thể gây ra rủi ro cho công ty. 100% cho biết công ty chưa ban hành quy trình quản trị rủi ro chuẩn hóa mà chỉ áp dụng cục bộ một số khâu.
  • Đánh giá mức độ quan trọng giữa các mắt xích: Khảo sát cho thấy nhân sự công ty coi trọng nhất mắt xích "Kiểm soát và tài trợ rủi ro" (điểm trung bình 1.4 - xếp thứ 1), tiếp đến là "Đánh giá và đo lường rủi ro" (2.1 - thứ 2), trong khi "Nhận dạng rủi ro" (3.3 - thứ 3) và "Phân tích rủi ro" (3.6 - thứ 4) bị đánh giá thấp hơn.
  • Đánh giá điểm yếu kém của công ty: Yếu kém lớn nhất là "Nhận thức, thái độ của nhà quản trị và CBCNV" (điểm 1.4 - thứ 1), thứ hai là "Khả năng tài chính" (điểm 2.0 - thứ 2), thứ ba là "Điều kiện kỹ thuật công nghệ" (điểm 2.1 - thứ 3) và thứ tư là "Điều kiện tự nhiên" (điểm 2.4 - thứ 4).

Dưới đây là bảng tổng hợp các sự cố rủi ro và tổn thất tài chính thực tế tại công ty giai đoạn 2012 - 2014:

Dạng rủi ro phát sinh Số vụ 2012 Số vụ 2013 Số vụ 2014 Tổng số vụ Tổn thất 2012 (Tr.đ) Tổn thất 2013 (Tr.đ) Tổn thất 2014 (Tr.đ)
Hàng hóa bị hỏng 5 8 7 20 106,2 137,1 110,4
Phá sản của nhà cung ứng 2 4 5 11 90,5 108,6 97,0
Quá trình vận chuyển 4 3 2 9 80,3 126,0 103,5
Thanh toán, tỷ giá 3 2 2 7 70,2 79,5 81,4
Mất khách hàng, thị trường 1 3 2 6 105,6 123,1 119,2
Nhân viên nghỉ việc mang theo danh sách KH 1 1 0 2 - - -
Thay đổi chính sách pháp luật 1 0 0 1 0 65,1 0
Tổng cộng 17 21 18 56 452,8 639,4 511,5

Phân loại ma trận rủi ro qua các năm cho thấy: năm 2012 có tần số thấp - biên độ thấp; năm 2013 có tần số cao - biên độ cao; năm 2014 có tần số thấp - biên độ cao.

Về nguyên nhân tồn tại, tác giả chỉ ra các yếu tố chủ quan: công ty thiếu bộ phận chuyên trách quản trị rủi ro (hiện giao cho Phòng Kinh doanh kiêm nhiệm); đội ngũ nhân lực dược bậc đại học còn mỏng; ban lãnh đạo chưa nhanh nhạy với các công cụ quản trị hiện đại; kho bãi bố trí chưa tối ưu và phụ thuộc phương tiện vận chuyển thuê ngoài. Về nguyên nhân khách quan: biến động thị trường vĩ mô, lạm phát đẩy chi phí nguyên vật liệu tăng cao và cơ chế chính sách quản lý giá thuốc có nhiều điều chỉnh.

Chương 3: Một số đề xuất và kiến nghị hoàn thiện công tác quản trị rủi ro của Công ty Cổ phần Dược Bình Lục

Chương 3 đưa ra ba nhóm quan điểm định hướng hoàn thiện: (1) Nâng cao nhận thức vai trò quản trị rủi ro trong toàn thể tổ chức; (2) Hoàn thiện bộ phận hành chính trực tiếp quản lý rủi ro; (3) Kết hợp hài hòa giữa phòng chống rủi ro với các giải pháp tăng trưởng kinh doanh.

Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra hệ thống đề xuất và kiến nghị chi tiết:

  • Thiết lập bộ phận chuyên trách về quản trị rủi ro: Thành lập một phòng ban hoặc bộ phận độc lập, được phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn để xây dựng, vận hành và giám sát toàn bộ quy trình quản trị rủi ro.
  • Hoàn thiện quy trình quản trị rủi ro kinh doanh:
    • Nhận dạng: Áp dụng định kỳ phương pháp bảng hỏi, thanh tra hiện trường, phân tích báo cáo tài sản hao mòn và thu thập thông tin phản hồi từ mạng lưới phân phối.
    • Phân tích: Xác định rõ căn nguyên hiểm họa (ý thức con người, máy móc, biến động giá, thời tiết) để phân loại rủi ro ưu tiên.
    • Đo lường: Lập ma trận tần số - biên độ rủi ro, phân loại các mức độ nghiêm trọng để phân bổ nguồn lực ứng phó.
    • Kiểm soát: Phân tán rủi ro thông qua điều khoản hợp đồng; kiểm định kỹ năng công nhân vận hành máy móc sản xuất GMP; siết chặt quy trình giám sát chất lượng lô thuốc.
    • Tài trợ: Lập quỹ dự phòng rủi ro trích từ lợi nhuận hoặc chi phí hoạt động; duy trì mua bảo hiểm cho tài sản, con người và mở rộng mua bảo hiểm cho các lô hàng vận chuyển đường dài; tăng cường cơ chế chia sẻ rủi ro với nhà cung cấp.
  • Các kiến nghị cụ thể:
    • Công tác vận chuyển và giao nhận: Khảo sát và lựa chọn đối tác vận tải có uy tín, siết chặt khâu kiểm tra quy cách, số lượng và chất lượng thuốc khi xuất/nhập kho để tránh hư hỏng, nhầm lẫn thanh toán.
    • Công tác tài chính và vốn: Đa dạng hóa nguồn vốn huy động, cân đối dòng tiền để chủ động nhập nguyên liệu giá tốt và đầu tư máy móc mới.
    • Công tác nhân sự: Đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân sản xuất; bồi dưỡng kiến thức quản trị rủi ro cho cán bộ kinh doanh; thực hiện chính sách trẻ hóa đội ngũ cán bộ quản lý.
    • Công tác nghiên cứu thị trường: Xây dựng chiến lược khách hàng và kế hoạch cung ứng cụ thể theo từng thời điểm để hạn chế nguy cơ đọng vốn và mất thị phần.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Khóa luận đã lượng hóa được toàn bộ các vụ việc rủi ro tại Công ty Cổ phần Dược Bình Lục trong 3 năm (2012 - 2014) với tổng cộng 56 vụ rủi ro phát sinh, gây tổng thiệt hại tài chính lên tới 1.603,7 triệu đồng (năm 2012: 452,8 triệu đồng; năm 2013: 639,4 triệu đồng; năm 2014: 511,5 triệu đồng).
  • Chỉ ra rủi ro xảy ra thường xuyên và gây tổn thất lớn nhất cho doanh nghiệp là "Hàng hóa bị hỏng" (20 vụ, chiếm tỷ trọng thiệt hại cao nhất với 353,7 triệu đồng trong 3 năm), tiếp theo là rủi ro "Phá sản của nhà cung ứng" (11 vụ, thiệt hại 296,1 triệu đồng) và "Rủi ro vận chuyển" (9 vụ, thiệt hại 309,8 triệu đồng).
  • Làm rõ thực trạng công tác quản lý rủi ro tại doanh nghiệp mang tính bị động: tập trung chủ yếu vào khâu xử lý hậu quả (kiểm soát, tài trợ qua bảo hiểm) mà bỏ trống các khâu phòng ngừa chủ động từ đầu (nhận dạng, phân tích hiểm họa).

Giải pháp đề xuất

Tác giả đề xuất một mô hình giải pháp đồng bộ gồm: thành lập bộ phận chuyên trách; chuẩn hóa quy trình 5 bước; xây dựng quỹ dự phòng rủi ro kết hợp bảo hiểm thương mại; hoàn thiện nghiệp vụ vận chuyển, quản trị vốn, đào tạo nhân sự và nghiên cứu thị trường.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước

Trong phần tổng quan nghiên cứu, tác giả chỉ ra các công trình trước đây tại Trường Đại học Thương Mại (như nghiên cứu của Vũ Thị Ngọc năm 2008, Nguyễn Thị Minh Thảo năm 2011, Phạm Thị Đào Hảo năm 2011) chủ yếu tập trung vào quản trị rủi ro tín dụng trong khối ngân hàng thương mại và chưa tiếp cận quản trị rủi ro như một quy trình xuyên suốt 5 bước. Đề tài của tác giả là công trình đầu tiên tại đơn vị đào tạo nghiên cứu chuyên sâu về quy trình quản trị rủi ro trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh dược phẩm, đồng thời là nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên về công tác này tại Công ty Cổ phần Dược Bình Lục.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Quy mô mẫu điều tra sơ cấp còn hạn chế (10 phiếu khảo sát nhân viên và 8 câu hỏi phỏng vấn quản lý), chưa bao quát toàn bộ 204 lao động trong công ty; phạm vi dữ liệu phân tích giới hạn trong một doanh nghiệp dược cụ thể tại địa bàn tỉnh Hà Nam với chuỗi số liệu từ năm 2012 đến 2014.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô khảo sát trên cỡ mẫu lớn hơn; nghiên cứu so sánh mô hình quản trị rủi ro giữa các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm có quy mô khác nhau tại Việt Nam; phân tích sâu hơn các công cụ tài chính phái sinh và mô hình định lượng rủi ro chuỗi cung ứng dược phẩm.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị doanh nghiệp; các nhà nghiên cứu thực hiện đề tài về quản trị rủi ro trong doanh nghiệp vừa và nhỏ; cán bộ quản lý, chuyên viên phòng kinh doanh/kế hoạch tại các công ty sản xuất và phân phối dược phẩm.
  • Nội dung tham khảo hữu ích:
    • Bộ công cụ khảo sát sơ cấp (bảng câu hỏi trắc nghiệm 10 câu và khung phỏng vấn 8 câu về nhận thức và thực trạng rủi ro).
    • Phương pháp xây dựng bảng theo dõi số vụ rủi ro và bảng đo lường tổn thất tài chính theo từng đối tượng rủi ro thực tế trong ngành dược.
    • Quy trình 5 bước kiểm soát rủi ro gắn liền với đặc thù sản xuất thuốc (kiểm soát kho tàng, vận chuyển, hao mòn máy móc GMP và quan hệ nhà cung cấp).

Câu hỏi thường gặp

1. Trong giai đoạn 2012 - 2014, loại rủi ro nào xảy ra nhiều nhất và gây tổn thất tài chính lớn nhất tại Công ty Cổ phần Dược Bình Lục?
Rủi ro "Hàng hóa bị hỏng" xảy ra nhiều nhất với 20 vụ việc trong 3 năm (năm 2012: 5 vụ; năm 2013: 8 vụ; năm 2014: 7 vụ) và cũng là nguyên nhân gây tổn thất tài chính lớn nhất cho công ty với mức thiệt hại lên tới 137,1 triệu đồng trong năm 2013 và tổng cộng 353,7 triệu đồng trong cả giai đoạn 2012 - 2014.

2. Thực trạng cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro tại Công ty Dược Bình Lục khi thực hiện khóa luận như thế nào?
Công ty chưa thành lập bộ phận chuyên trách về quản trị rủi ro và chưa có chuyên gia chuyên môn về lĩnh vực này. Toàn bộ hoạt động nhận dạng và ứng phó rủi ro thực tế được giao cho Phòng Kinh doanh kiêm nhiệm, dẫn đến hoạt động quản trị rủi ro chưa mang tính đồng bộ và chưa phát huy hiệu quả cao.

3. Kết quả khảo sát sơ cấp cho thấy nhân sự công ty đánh giá khâu nào là quan trọng nhất và khâu nào bị xem nhẹ nhất trong quy trình quản trị rủi ro?
Theo kết quả khảo sát 10 phiếu điều tra, mắt xích được đánh giá quan trọng nhất là "Kiểm soát và tài trợ rủi ro" (điểm trung bình 1.4 - xếp thứ 1). Ngược lại, hai mắt xích đầu vào bị đánh giá kém quan trọng nhất là "Nhận dạng rủi ro" (điểm trung bình 3.3 - xếp thứ 3) và "Phân tích rủi ro" (điểm trung bình 3.6 - xếp thứ 4).

4. Khóa luận sử dụng các phương pháp thu thập dữ liệu cụ thể nào để phục vụ nghiên cứu?
Khóa luận sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp (báo cáo tài chính, báo cáo sản xuất kinh doanh của các phòng ban giai đoạn 2012 - 2014, tạp chí chuyên ngành) và dữ liệu sơ cấp (10 phiếu điều tra trắc nghiệm phát cho CBCNV, đạt tỷ lệ thu hồi 100%, cùng bảng câu hỏi phỏng vấn sâu 8 câu dành cho các nhà quản trị).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Đăng Đạo đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về quản trị rủi ro và phản ánh chi tiết thực trạng triển khai tại Công ty Cổ phần Dược Bình Lục giai đoạn 2012 - 2014. Nghiên cứu đã lượng hóa cụ thể 56 sự cố rủi ro với tổng tổn thất 1.603,7 triệu đồng, chỉ ra điểm nghẽn chính nằm ở sự thiếu vắng bộ phận chuyên trách và quy trình phòng ngừa chủ động. Các giải pháp đề xuất về thiết lập bộ máy, chuẩn hóa quy trình 5 bước và hoàn thiện các khâu vận chuyển, nhân sự, tài chính mang tính ứng dụng thiết thực, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực kiểm soát rủi ro trong sản xuất và kinh doanh dược phẩm.