phần mở đầu, phần nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo. Phần nội dung chính của luận văn gồm ba chƣơng: 4 (LUAN.viet TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.viet Chƣơng 1: Lý luận chung về Văn phòng công chứng, rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động của Văn phòng công chứng. Chƣơng 2: Thực trạng rủi ro và quản trị rủi ro tại Văn phòng công chứng Lạc Việt. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong hoạt động của Văn phòng công chứng Lạc Việt.viet TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.viet CHƢƠNG 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN PHÕNG CÔNG CHỨNG, RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÕNG CÔNG CHỨNG 1. Khái quát chung về Văn phòng công chứng 1. Khái niệm Văn phòng công chứng Trong các Nghị định trƣớc đây, cụ thể là ở Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991, Nghị định số 31/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 và Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 đều xác định công chứng ở nƣớc ta là nhà nƣớc thực hiện công chứng chứ chƣa hƣớng đến việc xã hội hóa các hoạt động về công chứng. Ở các nƣớc khác trên thế giới, mô hình VPCC đã có từ rất sớm nhƣng mãi đến khi Luật công chứng 2006 ra đời thì nƣớc ta mới thừa nhận mô hình VPCC, tồn tại song song bên cạnh phòng công chứng.
Có thể nói với sự ra đời của VPCC đã đánh dấu một bƣớc tiến mới trong hoạt động công chứng ở nƣớc ta hiện nay, là bƣớc ngoặt quan trọng trong lĩnh vực công chứng tƣ, là cơ sở để nhà nƣớc quản lý các giao dịch dân sự, thúc đẩy chủ trƣơng xã hội hóa hoạt động công chứng nói chung và xã hội hóa hoạt động công chứng nói riêng. Tại Điều 22 Luật công chứng năm 2014 quy định nhƣ sau: “1. VPCC được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh. VPCC phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên.
VPCC không có thành viên góp vốn. Người đại diện theo pháp luật của VPCC là Trưởng Văn phòng. Trưởng VPCC phải là công chứng viên hợp danh của VPCC và đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên. Tên gọi của VPCC phải bao gồm cụm từ “VPCC” kèm theo họ tên của Trưởng Văn phòng hoặc họ tên của một công chứng viên hợp danh khác của VPCC do các công chứng viên hợp danh thỏa thuận, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn 6 (LUAN.viet TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.viet với tên của tổ chức hành nghề công chứng khác, không được vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc.
VPCC phải có trụ sở đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định.VPCC có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác. VPCC sử dụng con dấu không có hình quốc huy. VPCC được khắc và sử dụng con dấu sau khi có quyết định cho phép thành lập. Thủ tục, hồ sơ xin khắc dấu, việc quản lý, sử dụng con dấu của VPCC được thực hiện theo quy định của pháp luật về con dấu”.
Từ những quy định trên của pháp luật, có thể hiểu một cách khái quát: VPCC không phải là cơ quan hành chính nhà nƣớc mà là một doanh nghiệp hoạt động theo Luật công chứng và Luật Doanh nghiệp bởi VPCC là loại hình có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh nhƣ vậy có thể xếp VPCC vào hệ thống các DNNVV nhƣng vẫn mang tính quyền lực nhà nƣớc. VPCC phải có từ hai CCV hợp danh trở lên thành lập, đƣợc tổ chức theo hình thức là công ty hợp danh, thực hiện các hoạt động công chứng theo quy định của pháp luật và đặt dƣới sự quản lý của nhà nƣớc. VPCC ra đời đánh dấu một bƣớc phát triển xã hội hóa dịch vụ công, xóa bỏ độc quyền của nhà nƣớc trong lĩnh vực công chứng, trở thành bệ phóng cho nhà nƣớc dần rút khỏi việc trực tiếp cung ứng dịch vụ công chứng tiến tới chuyển giao hẳn cho các chủ thể phi nhà nƣớc thực hiện, nhà nƣớc chỉ đóng vai trò duy nhất là chủ thể quản lý nhà nƣớc. Đặc điểm của Văn phòng công chứng - Về tổ chức của Văn phòng công chứng Theo quy định tại Điều 26 của Luật công chứng năm 2014, VPCC là tổ chức dịch vụ công có từ hai CCV hợp danh trở lên thành lập, hoạt động theo mô hình công ty hợp danh.
Ngƣời đại diện theo pháp luật của VPCC là Trƣởng VPCC, Trƣởng VPCC phải là CCV hợp danh của VPCC và đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên. VPCC có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu nhập hợp pháp khác.viet TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.viet - Về hoạt động của Văn phòng công chứng Hoạt động của VPCC vừa mang tính công quyền (nhân danh nhà nƣớc vì lợi ích nhà nƣớc), vừa mang tính dịch vụ công (nhằm mục đích phục vụ ngày càng tốt hơn cho lợi ích của các tổ chức, cá nhân có nhu cầu công chứng, trên cơ sở phù hợp với lợi ích của xã hội). Tính chất dịch vụ công của công chứng hƣớng đến ba lợi ích: + Lợi ích của nhà nƣớc: Sự ra đời của VPCC đã giúp nhà nƣớc vừa giảm bớt gánh nặng cho mình vừa phát huy đƣợc tối đa nguồn lực trong xã hội, góp phần tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa. + Lợi ích của các bên tham gia giao dịch: VPCC đã giúp cho các tổ chức, cá nhân thực hiện các giao dịch của mình một cách thuận lợi, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch.
+ Lợi ích của VPCC: VPCC khi thực hiện hoạt động công chứng đƣợc thu phí và thù lao công chứng theo quy định. - Nguồn tài chính của Văn phòng công chứng VPCC hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu nhập hợp pháp khác, bao gồm: + Phí công chứng: phí công chứng bao gồm phí công chứng hợp đồng, giao dịch, phí lƣu giữ di chúc, phí cấp bản sao văn bản công chứng. Mức thu phí công chứng đƣợc áp dụng thống nhất đối Phòng công chứng và VPCC do Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tƣ pháp quy định mức thu, chế độ quản lý, sử dụng phí công chứng. + Thù lao công chứng: là khoản tiền do VPCC thu đƣợc từ việc soạn thảo hợp đồng, giao dịch, đánh máy, sao chụp và các việc khác liên quan đến công việc công chứng.
Mức thù lao đối với từng loại việc do tổ chức hành nghề công chứng xác định. + Các nguồn thu khác: Là khoản tiền do VPCC thu từ việc ngƣời yêu cầu công chứng đề nghị xác minh, giám định hoặc thực hiện công chứng ngoài trụ sở của VPCC. Mức thu phí này do tổ chức hành nghề công chứng và ngƣời yêu cầu công chứng thỏa thuận. Rủi ro trong hoạt động của Văn phòng công chứng 1.
Định nghĩa chung về rủi ro 8 (LUAN.viet TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.viet Bàn về khái niệm rủi ro: Cho đến nay chƣa có đƣợc định nghĩa thống nhất về rủi ro. Những trƣờng phái khác nhau, các tác giả khác nhau đƣa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau. Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, nhƣng tập trung lại có thể chia thành hai trƣờng phái lớn: Trƣờng phái truyền thống và Trƣờng phái hiện đại. Theo trƣờng phái truyền thống, rủi ro đƣợc xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm.
Nó đƣợc xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến. Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến. Rủi ro còn đƣợc hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con ngƣời.
Theo trƣờng phái hiện đại, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lƣờng đƣợc, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con ngƣời nhƣng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, ngƣời ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tƣơng lai. Rủi ro phụ thuộc vào ngữ cảnh, nếu con ngƣời không có khái niệm hoặc không liên quan đến thì họ không có rủi ro.
Rủi ro bao gồm 3 yếu tố: xác suất xảy ra, khả năng ảnh hƣởng đến đối tƣợng và thời lƣợng ảnh hƣởng. Bản chất rủi ro là sự không chắc chắn, nếu chắc chắc (xác suất bằng 0% hoặc 100%) thì không gọi là rủi ro. Có thể phân biệt Rủi ro theo các tiêu thức sau: - Rủi ro tĩnh và rủi ro động. Rủi ro động là những rủi ro liên quan đến sự luôn thay đổi, đặc biệt là trong nền kinh tế.
Đó là những rủi ro mà hậu quả của nó có thể có lợi, nhƣng cũng có thể sẽ mang đến sự tổn thất (sự thay đổi về thị hiếu khách hàng có thể phù hợp với sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh hay không, sự thay đổi về công nghệ kĩ thuật có phù hợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp hay không, sự thay đổi đó có quá nhanh hay không?.viet TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.viet Rủi ro tĩnh là những rủi ro, mà hậu quả của nó chỉ liên quan đến sự xuất hiện tổn thất hay không, chứ không có khả năng sinh lời, và không chịu sự ảnh hƣởng của những thay đổi trong nền kinh tế. Những rủi ro tĩnh thƣờng liên quan đến các đối tƣợng: tài sản, con ngƣời, trách nhiệm dân sự(1). - Rủi ro cơ bản và rủi ro riêng biệt Rủi ro cơ bản là những rủi ro phát sinh từ nguyên nhân ngoài tầm kiểm soát của mọi ngƣời. Hậu quả của rủi ro cơ bản thƣờng rất nghiêm trọng, khó lƣờng, có ảnh hƣởng tới cộng đồng và toàn xã hội.
Ví dụ: lạm phát, khủng hoảng kinh tế, động đất.