CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÀI CHÍNH, PHÒNG NGỪA RỦI RO TÀI CHÍNH VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH 1.1> Khái niệm rủi ro tài chính Các doanh nghiệp ngày nay thường xuyên phải đối mặt với những độ nhạy cảm từ các nhân tố thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa và chứng khoán, độ nhạy cảm từ các nhân tố giá cả thị trường tác động đến thu nhập của doanh nghiệp là rủi ro tài chính. Thuật ngữ rủi ro tài chính còn được dùng để diễn tả những biến động không thể dự đoán trước của tỷ giá, lãi suất và giá hàng hóa không những có thể ảnh hưởng đến các khoản lợi nhuận được báo cáo hàng quý của một công ty mà còn có thể định đoạt liệu công ty đó có thể tồn tại hay không. Trong hơn hai thập kỷ qua, các công ty ngày càng bị thách thức nhiều hơn bởi những rủi ro tài chính. Một công ty hiện nay không chỉ cần có các công nghệ sản xuất tiên tiến nhất, nguồn cung lao động rẻ nhất hoặc là chiến lược tiếp thị tốt nhất nữa; những biến động giá cả đột ngột có thể đẩy các công ty đang được điều hành tốt rơi vào tình trạng phá sản.
Những thay đổi trong tỷ giá có thể tạo ra những đối thủ mạnh mới. Tương tự như vậy, những thay đổi thất thường trong giá cả hàng hóa có thể đẩy giá cả đầu vào tăng đến mức mà người tiêu dùng chuyển hướng sang sử dụng các sản phẩm thay thế. Biến động của lãi suất có thể tạo ra áp lực làm tăng chi phí của các công ty. Các công ty nào có doanh thu thấp sẽ bị tác động bất lợi bởi lãi suất tăng lên và có thể lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính.
Thuật ngữ rủi ro tài chính thật ra có thể bao hàm nội dung rộng hơn độ nhạy cảm của doanh nghiệp với các nhân tố giá cả thị trường. Tuy nhiên trong phạm vi đề tài này chỉ tập trung giới thiệu về rủi ro tài chính có liên quan đến những biến động về giá cả hàng hóa, lãi suất, tỷ giá tác động đến thu nhập của doanh nghiệp.2> Rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống 1.1>Rủi ro hệ thống LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Rủi ro không thể nào tránh được cho dù có đa dạng hóa như thế nào đi nữa. Là một dạng rủi ro thuộc về bản chất gắn liền với mỗi ngành nghề kinh doanh nhất định, ngành nghề nào cũng có rủi ro kinh doanh thuộc về bản chất, hầu hết rủi ro kinh doanh là không thể phòng ngừa do “ không thể mua đi bán lại được” Rủi ro như thế gọi là rủi ro thị trường hay rủi ro hệ thống. Những rủi ro thuộc về bản chất kinh doanh như trên là do có những yếu tố sau: - Bản chất của doanh số bất ổn theo chu kỳ kinh doanh: Các doanh nghiệp với doanh số có khuynh hướng dao động lớn theo chu kỳ kinh doanh thường có nhiều rủi ro kinh doanh hơn các doanh nghiệp ít bị ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh doanh.
Tính bất ổn cao độ trong ngành hàng không là một minh họa rõ nhất về trường hợp rủi ro kinh doanh có thể phát sinh như thế nào. - Bản chất của bất ổn trong giá bán: Trong vài ngành công nghiệp, giá cả có thể ổn định từ năm này sang năm khác, hoặc doanh nghiệp có thể có khả năng tăng giá thường xuyên theo thời gian. Điều này đúng cho nhiều sản phẩm tiêu dùng, như thuốc lá và nhiều lọai thực phẩm chế biến sẵn. Ngược lại, ở các ngành công nghiệp khác, ổn định giá cả là điều ít chắc chắn hơn nhiều.
Ví dụ trong thập niên vừa qua, các công ty dầu như Exxon, Shell Oil và Mobil chẳng hạn, đã học được nhiều bài học quan trọng về tính bất ổn định của giá cả khi giá dầu thô đã sụt từ trên 30 đô la một thùng xuống dưới 10 đô la một thùng hoặc như vào những năm 2005 giá dầu thô đã tăng cao gần 70 đô la một thùng. Thông thường, giá cả trong một ngành công nghiệp càng cạnh tranh nhiều, rủi ro kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành đó càng lớn. - Bản chất của bất ổn trong chi phí: Tính bất ổn trong chi phí các nhập lượng dùng để sản xuất của một doanh nghiệp càng cao, rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp đó càng lớn. Ví dụ, các công ty hàng không như Delta Airlines đã chịu tác động đáng kể của tính dễ biến động trong giá cả của nhiên liệu máy bay do cú sốc giá nhiên liệu trên thị trường thế giới dường như đã không còn dấu hiệu kết thúc kể từ những năm 2004 đến nay.
- Cạnh tranh trên thương trường: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường lớn, như IBM chẳng hạn, nhờ quy mô của họ hay do cấu trúc của ngành công nghiệp trong đó họ cạnh tranh, thường có nhiều khả năng để kiểm soát chi phí và giá cả sản phẩm của họ hơn các doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường cạnh tranh hơn. Vì vậy, sức mạnh thị trường của một doanh nghiệp càng lớn, rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp này càng nhỏ. Khi đánh giá sức mạnh thị trường của một doanh nghiệp, nên xem xét không chỉ yếu tố cạnh tranh hiện tại doanh nghiệp đang phải đối phó mà nên xem xét cả tiềm năng cạnh tranh trong tương lai, nhất là cạnh tranh có thể phát sinh từ nước ngoài. Thí dụ, một nhà máy sản xuất máy tính gặp rủi ro kinh doanh là một đối thủ cạnh tranh của họ sẽ giới thiệu ra thị trường một sản phẩm ưu việt hơn về mặt công nghệ sẽ lấy mất thị phần của nhà sản xuất đó trong tương lai.
- Đầu tư tích lũy mà doanh nghiệp đã thực hiện qua thời gian: Các đầu tư này xác định các ngành công nghiệp mà trong đó doanh nghiệp sẽ cạnh tranh, mức độ sức mạnh thị trường mà doanh nghiệp sẽ sở hữu và mức độ định phí trong quy trình sản xuất. Các doanh nghiệp trong các ngành sản phẩm tiêu dùng, như ngành bán lẻ, sản xuất bia, chế biến thực phẩm và các doanh nghiệp tiện ích có khuynh hướng có mức độ rủi ro kinh doanh ít hơn. Ngược lại, các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa lâu bền, sản xuất hàng công nghiệp và các hãng hàng không thường có mức độ rủi ro kinh doanh cao hơn.2> Rủi ro phi hệ thống Rủi ro có thể được loại bỏ hoàn toàn bằng đa dạng hóa gọi là rủi ro phi hệ thống hay còn gọi là rủi ro có thể đa dạng hóa được. Rủi ro kinh doanh phát sinh do các quyết định quản trị đặc thù của doanh nghiệp.
Những quyết định quản trị đặc thù như doanh nghiệp nên mua hàng ở đâu, nên sử dụng đồng tiền nào trong giao dịch thương mại quốc tế…Các doanh nghiệp ngày nay thường xuyên phải đối mặt với những độ nhạy cảm từ các nhân tố thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa và chứng khóan. Độ nhạy cảm từ các nhân tố giá cả thị trường tác động đến thu nhập của doanh nghiệp là rủi ro tài chính. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Ở các quốc gia phát triển, hầu hết tình trạng rủi ro tài chính là có thể phòng ngừa được bởi vì có sự tồn tại của nhiều thị trường lớn và một thị trường hiệu quả mà thông qua đó những rủi ro này có thể được trao đổi lẫn nhau.3> Đánh giá rủi ro thông qua các báo cáo tài chính Xem xét tính thanh khoản và độ nhạy cảm đối với các nhân tố gây rủi ro trên các báo cáo tài chính thông qua các tỷ số tài chính. - Tỷ số thanh toán hiện hành: Một trong những thước đo khả năng thanh toán của một công ty được sử dụng rộng rãi nhất là khả năng thanh toán hiện hành.
Tài sản lưu động Tỷ số thanh toán hiện hành Rc = Nợ ngắn hạn Tài sản lưu động bao gồm các khoản vốn bằng tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn (bao gồm chứng khoán thị trường), các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản lưu động khác. Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải trả trong năm bao gồm: vay ngắn hạn, vay dài hạn đến hạn trả và các khoản phải trả khác. Tỷ số Rc cho thấy công ty có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Tỷ số này đo lường khả năng trả nợ của công ty.
Tỷ số này được chấp nhận hay không tùy thuộc vào sự so sánh với tỷ số thanh toán của các công ty cạnh tranh hoặc so sánh với các năm trước để thấy sự tiến bộ hoặc giảm sút. Nếu tỷ số thanh toán hiện hành giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra. Nếu tỷ số thanh toán hiện hành cao điều đó có nghĩa là công ty luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ. Tuy nhiên nếu tỷ số thanh toán hiện hành quá cao sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động vì công ty đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động hay nói cách khác việc quản lý tài sản lưu động không hiệu quả (ví dụ: có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi, nợ phải đòi, hàng tồn kho ứ đọng).
Một công ty nếu dự trữ nhiều hàng tồn kho thì sẽ có tỷ số LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 thanh toán hiện hành cao, mà ta đã biết hàng tồn kho là tài sản khó hoán chuyển thành tiền, nhất là hàng tồn kho ứ đọng, kém phẩm chất. Vì thế, trong nhiều trường hợp, tỷ số thanh toán hiện hành không phản ánh chính xác khả năng thanh toán của công ty. - Tỷ số thanh toán nhanh: Tỷ số thanh toán nhanh được tính toán dựa trên những tài sản lưu động có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, đôi khi chúng được gọi là “Tài sản có tính thanh khoản”, “Tài sản có tính thanh khoản” bao gồm tất cả tài sản lưu động trừ hàng tồn kho. Tài sản lưu động – Hàng tồn kho Tỷ số thanh toán nhanh Rq = Nợ ngắn hạn Tỷ số thanh toán cho biết rằng nếu hàng tồn kho của công ty ứ đọng, không đáng giá thì công ty sẽ lâm vào khó khăn tài chính gọi là “không có khả năng chi trả”.
“Không có khả năng chi trả” xảy ra khi một công ty không đủ tiền để trả các khoản nợ khi chúng đến hạn.