Chương 1: Lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp đầu 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tư và kinh doanh BĐS tại Việt Nam Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro tại một số doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh BĐS tại Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2015 Chương 3: Dự báo và đề xuất một số giải pháp cho lực lượng ANKT nhằm tăng cường giám sát để tăng cường quản trị rủi ro đối với các doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh BĐS tại Việt Nam trong giai đoạn 2018-2023 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng I LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI CÁC DOANH NGHIỆP ĐẦU TƢ VÀ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm về rủi ro, quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp đầu tƣ và kinh doanh BĐS tại Việt Nam 1. Rủi ro Rủi ro là khả năng xảy ra sự khác biệt giữa kết quả thực tế và kỳ vọng theo kế hoạch. Rủi ro là tác động của những biến cố xảy ra trong tương lai lên giá trị ròng của một chủ thể kinh tế hoặc một danh mục tài sản mà khả năng xảy ra biến cố đó có thể dự đoán trước nhưng không thể dự đoán chính xác biến cố đó sẽ xảy ra như thế nào.
Đối với một cá nhân thì rủi ro được hiểu là bất kỳ một sự kiện, hành động, hay tác động nào có thể ảnh hưởng hay ngăn cản cá nhân đạt được các mong muốn hợp lệ. Đối với một tổ chức hay doanh nghiệp thì rủi ro được hiểu là bất kỳ sự kiện hay hành động nào có thể tác động hoặc ngăn cản doanh nghiệp trong việc đạt được các mục tiêu đã đề ra. Rủi ro doanh nghiệp là nguy cơ xảy ra những sự kiện ngoài mong muốn, gây ra những tác động bất lợi cho doanh nghiệp, các tác động này có thể dẫn đến sự giảm sút trong doanh thu hoặc đặt doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn về tài chính. Ngoài ra, cá tác động này có thể biểu hiện dưới dạng phi tài chính gây hậu quả tiêu cực đến uy tín, khả năng sinh lời trong tương lai của ngân hàng.
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp còn được hiểu là khả năng sinh lời trong tương lai của doanh nghiệp. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp còn được hiểu là khả năng phá sinh những 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự kiện gây tác động tiêu cực đến mục tiêu chiến lược và hoạt động của doanh nghiệp, mang đến tổn thất của doanh nghiệp. Rủi ro thường đi đôi với lợi ích, rủi ro càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng cho doanh nghiệp càng lớn. Các doanh nghiệp luôn phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được lợi ích xứng đáng với những rủi ro phải chấp nhận.
Do đó, việc chấp nhận rủi ro là yếu tố tất yếu đối với doanh nghiệp, tuy nhiên, rủi ro cần được chấp nhận ở mức hợp lý, có thể kiểm soát được để đạt mức lợi nhuận mong muốn. Rủi ro doanh nghiệp bao gồm các loại rủi ro sau: Rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động. Rủi ro thị trường của các doanh nghiệp là khả năng xảy ra tổn thất về thu nhập hoặc vốn của doanh nghiệp do những biến động bất lợi của các yếu tố trên thị trường. Rủi ro hoạt động của doanh nghiệp là khả năng xảy ra tổn thất do các quy trình nội bộ không đầy đủ hoặc bị lỗi, do con người, do các hệ thống hoặc do sự kiện bên ngoài.
Trong hoạt động của các doanh nghiệp, cán bộ, nhân viên có thể có tình gian lận hoặc cố tình mắc lỗi hoặc do doanh nghiệp thiếu mất những vị trí chủ chốt. Rủi ro hoạt động doanh nghiệp có thể bị gây ra bởi công nghệ thông tin nếu chất lượng các phần mềm yếu kém, dữ liệu thông tin không đầy đủ hoặc hệ thống bảo mật thông tin không an toàn, sẽ dễ gây ra những sai sót hoặc lỗ hổng an ninh. Một nguyên nhân khác là từ quy trình, hệ thống không đầy đủ, thiếu hướng dẫn cụ thể gây khó khăn cho nhân viên hoặc có nhiều điểm bất cập, chưa hoàn chỉnh, tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Rủi ro này có thể xảy ra do các yếu tố bên ngoài như pháp luật, thiên tai, tội phạm… Trên thực tế, rủi ro hoạt động luôn hiện hữu trong tất các hoạt động của doanh nghiệp.
Có thể xem xét mức độ xảy ra và mức độ thiệt hại của rủi ro hoạt động theo hai khía cạnh: những hoạt động có tần suất lớn nhưng mức độ thiệt hại nhỏ: như các nhầm 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lẫn, sai sót của nhân viên… và những hoạt động có tần suất nhỏ nhưng mức độ thiệt hại lớn. Quản trị rủi ro 1.Khái niệm Quản trị rủi ro chính là quá trình nhận diện, đo lường, kiểm soát và xử lý rủi ro nhằm hạn chế tổn thất về thu nhập hoặc vốn của doanh nghiệp khi rủi ro xảy ra. Hoạt động quản trị rủi ro dựa trên quan điểm hiện đại chính là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro. Quản trị rủi ro của tổ chức và doanh nghiệp là các quy trình mà ở đó những người có trách nhiệm tiến hành mọi hoạt động và sử dụng mọi công cụ có thể để nghiên cứu, dự báo, hoạch định và thực thi các chiến lược và kế hoạch để phòng ngừa các rủi ro và ứng phó với các khủng hoảng để đảm bảo duy trì được khả năng cạnh tranh bền vững hay sự phát triển bền vững của tổ chức hay doanh nghiệp.
Quy trình quản trị rủi ro doanh nghiệp Để quản trị rủi ro doanh nghiệp cần tuân thủ quy trình bao gồm 4 bước sau: Nhận diện rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát rủi ro và xử lý rủi ro. Nhận diện rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro của doanh nghiệp. Các hoạt động nhận dạng rủi ro nhằm phát triển thông tin về nguồn rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa và nguy cơ rủi ro. Các phương pháp nhận diện rủi ro bao gồm: Phương pháp dựa vào mục tiêu; Phương pháp đưa ra tình huống; phương pháp dựa vào kinh nghiệm, tiền lệ; phương pháp hỗn hợp.
Đo lường rủi ro là quá trình lượng hóa những tổn thất do các rủi ro do các biến cố đã được nhận diện từ bước 1 gây ra đối với định chế tài chính. Các 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phương pháp đo lường rủi ro bao gồm: Phân tích định tính (lịch sử, sở hữu, mô hình tổ chức, đội ngũ Quản trị - Điều hành, đánh giá tín nhiệm bên ngoài), đánh giá tín nhiệm nội bộ, chế độ kế toán – kiểm toán…; phân tích định lượng (xây dựng các mô hình đo lường và dự báo rủi ro); phân tích ngành, đối thủ cạnh tranh (thị phần, so với đối thủ cạnh tranh); phân tích xu hướng; phương pháp khác (đo mức độ tập trung, tính đa dạng…). Kiểm soát rủi ro: Tuân thủ nguyên tắc quản lý rủi ro cẩn trọng; đánh giá rủi ro và xác lập hạn mức; xác lập trạng thái giao dịch; xác lập sản phẩm, dịch vụ không được cung ứng; xác lập lượng vốn tương ứng mức rủi ro; xây dựng văn hóa rủi ro trong doanh nghiệp; thiết lập chiến lược, chính sách và nguồn lực (con người, công nghệ, quy trình quản lý rủi ro). Quản trị rủi ro và quản trị an ninh phi truyền thống 1.
An ninh phi truyền thống Trong tiếng Anh, “An ninh phi truyền thống” là Nontraditional Security. Đây là cụm từ mới xuất hiện trong những thập kỷ gần đây, nhưng đã nhanh chóng trở thành mối quan tâm của các nhà học giả và chính phủ các nước bởi tác động và ảnh hưởng của nó. Cụm từ an ninh phi truyền thống bắt đầu xuất hiện và được bàn luận sôi nổi trong các cuộc hội thảo ở quy mô quốc gia và quốc tế sau sự kiện 11. Năm 2002, vấn đề ANPTT xuất hiện chính thức trong “Tuyên bố chung ASEAN – Trung Quốc về hợp tác trên lĩnh vực an ninh phi truyền thống” được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 6 giữa các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) và Trung Quốc tại Phnôm Pênh (Cămpuchia) ngày 01-11-2002.
Kể từ đó, ANPTT trở thành một nội dung quan trọng trong chương trình nghị sự của nhiều diễn đàn quốc tế, đồng thời là hướng ưu tiên trong chương trình hợp tác giữa các nước, các tổ chức quốc tế như: ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, EU. Một số nước cũng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đã tổ chức nghiên cứu và đưa vấn đề ANPTT vào chương trình, chính sách an ninh quốc phòng (Pháp, Canada, Mỹ,…). Tuy nhiên cho đến nay, việc nhận thức và xác định những vấn đề ANPTT vẫn chưa có sự thống nhất. Trong Báo cáo hàng năm về sự phát triển của con người được Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) đưa ra năm 1994 đã chỉ ra 7 phương diện liên quan đến con người, đó là: ANKT, an ninh lương thực, an ninh sức khoẻ, an ninh môi trường, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị.
Kể từ đó, nhiều nghiên cứu đã viện dẫn quan điểm này và cho đó là các vấn đề của ANPTT. Có nghiên cứu quy vấn đề an ninh phi truyền thống vào 5 lĩnh vực cơ bản: kinh tế, môi trường, xã hội, chính trị và văn hoá. Một quan điểm khác phân chia các vấn đề an ninh phi truyền thống thành 6 nhóm chính: ô nhiễm môi trường, tình trạng thiếu hụt tài nguyên, tội phạm xuyên quốc gia, nạn khủng bố, dịch bệnh truyền nhiễm và thảm hoạ địa chất. Trong tuyên bố chung ASEAN – Trung Quốc về hợp tác trên lĩnh vực ANPTT xác định ANPTT là những vấn đề: tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, ma tuý, buôn bán phụ nữ và trẻ em, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế, tội phạm công nghệ cao.
Theo Giáo sư Tsuneo Akaha, giáo sư nghiên cứu chính sách quốc tế và giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đông Á, Viện Nghiên cứu quốc tế và tiền tệ, khái niệm ANPTT được xây dựng trên cơ sở sự khác biệt với khái niệm an ninh và ANQG.