Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CĂN BẢN VỀ QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI CÁC NGÂN HÀNG 1. Khái quát về nhân lực và quản trị nhân lực tại các ngân hàng 1. Khái niệm, vai trò của nhân lực 1. Khái niệm nhân lực Nhân lực được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam, chẳng hạn: Nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu là con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một tổ chức, một đơn vị có thể tham gia vào quá trình phát triển đất nước, lãnh thổ, doanh nghiệp.
Nhân lực theo nghĩa hẹp được hiểu là bộ phận dân số trong độ tuổi theo quy định của pháp luật đang tham gia lao động. Xét về hai mặt của nhân lực là số lượng và chất lượng. Về số lượng, nhân lực là tổng thể những người trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc mà họ có thể huy động được. Còn về chất lượng nhân lực, thể hiện qua sức khỏe, giới tính, ý thức, trình độ chuyên môn, tác phong, thái độ làm việc của lao động đó.
Nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định và có khả năng tham gia vào quá trình lao động. Nhân lực của quốc gia phụ thuộc vào quy định của Nhà nước về độ tuổi lao động và khả năng tham gia lao động của từng cá nhân cụ thể. Nhân lực được hiểu là lực lượng lao động cùng với kỹ năng tương ứng sử dụng các nguồn lực khác nhau tạo ra các sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường và xã hội [25, tr. Còn theo tác giả Nguyễn Hồng Hải (2015) cho rằng nhân lực là nguồn lực của mỗi con người gồm thể lực và trí lực thể hiện việc tận dụng tri thức, sức lực của con người trong sản xuất lao động.
Vậy nhân lực là toàn bộ khả năng thể lực và trí lực của con người tham gia vào quá trình lao động sản suất, được huy động các yếu tố thể chất, tinh 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thần vào quá trình hoạt động sản xuất là, mỗi doanh nghiệp nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng những người lao động đáp ứng nhu cầu nhất định về loại hình lao động tương ứng [6, tr. Khái niệm về nguồn nhân lực Các nguồn lực cơ bản như: nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, tiềm năng về khoa học công nghệ, nguồn vốn, và nguồn lực con người mà mỗi quốc gia đều phải dựa vào để xây dựng và phát triển kinh tế. Nguồn lực con người là cơ bản quyết định sự tồn vong và sự phát triển của một quốc gia. Trên nhiều góc độ khác nhau, một số tác giả đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực của một đơn vị hình thành trên cơ sở có vai trò khác nhau của các cá nhân và được liên kết với nhau có những mục đích nhất định. “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH” [25, tr. Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia vào một công việc nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng [7, tr. Hai yếu tố tạo thành nguồn nhân lực đó là số lượng và chất lượng.
Toàn bộ con người tham gia vào quá trình hoạt động giới hạn độ tuổi và thời gian mà họ huy động làm việc. Sức khỏe, ý thức, giới tính, trình độ chuyên môn. thái độ và tác phong của người tham gia lao động là chất lượng của nguồn nhân lực. Vì vậy, Tác giả Trần Xuân Cầu (2012) cho rằng: Nguồn nhân lực là tổng thể sổ lượng và chất lượng con người với tổng hòa các tiêu chí về trí lực, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.
Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là toàn bộ năng lực của lực lượng lao động được biểu hiên thông qua ba mặt: thể lực, trí lực, tinh thần. Thể lực là tình trạng sức khỏe của NNL bao gồm nhiều yếu tố cả về thể chất lẫn tinh thần và phải đảm bảo được sự hài hòa giữa bên trong và bên ngoài. Là mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp cũng như sự thỏa mãn nhu cầu của người lao động {31, 20/10/2019}. * Bố trí và sử dụng nhân lực Bố trí nhân lực là quá trình sắp xếp nhân lực vào các vị trí công việc của đơn vị.
Sử dụng nhân lực là quá trình khai thác, phát huy hết khả năng làm việc của người lao động một cách tối đa để đạt hiệu quả cao nhất trong công việc. Vì vậy, bố trí và sử dụng nhân lực có mối liên quan chặt chẽ với nhau: bố trí đúng người đúng việc, ngược lại nếu doanh nghiệp tìm và bố trí được nhân lực có năng lực mà không biết cách sử dụng họ thì hiệu quả tổng thể cũng sẽ không đạt được {31, 20/10/2019}. Khái niệm về quản trị nhân lực Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản trị nhân lực. Một số tác giả đưa ra khái niệm về quản trị nhân lực như sau Khi đề cập đến quản trị nhân lực (Human Resource Management) thì French và Dessler chú trọng yếu tố phạm vi và nội dung đang thực hiện.
Theo French: “Quản trị nhân lực là triết lý, cuộc sống, thủ tục và thực tiễn liên quan đến việc quản trị con người trong phạm vi của tổ chức” [Error! Reference source not found. Quản trị nhân lực là phải gắn kết, tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa cán bộ nhân sự thực hiện và các chiến lược kinh doanh, chính sách, các thủ tục nhân lực của đơn vị. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt Nam trong nền kinh tế chưa ổn định, trình độ công nghệ, kỹ thuật còn thấp. Nhà nước chủ trương phát triển nhân lực con người với các chính sách đào tạo các chức năng thu hút nhân lực nhằm đạt kết quả cao nhất cho người lao động cũng như tổ chức đơn vị.
Quản trị nhân lực tốt giúp cho nhà quản trị đạt được kết quả, mục đích thông qua người lao động. Ngoài lập kế hoạch chuẩn, vẽ sơ đồ tổ chức rõ ràng, xây dựng hệ thống kiểm tra chính xác. Nhà quản trị nhân lực cần phải biết tuyển dụng nhân lực có năng lực, trình độ chuyên môn cao, sử dụng bố trí đúng người đúng việc, khuyến khích động viên người lao động, tạo mọi điều kiện đáp ứng được sự thỏa mãn nhu cầu của người lao động để người lao động làm việc có hiệu quả cao, đem lại lợi ích cho đơn vị.1: Một số đặc điểm của quản trị nhân lực Các khía cạnh so sánh Quản trị nhân lực ở các nước đang phát triển hoặc có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung Mục tiêu quan tâm hàng đầu Lợi ích của tổ chức và nhân viên Quan hệ giữa nhân viên và Quan hệ hợp tác bình đẳng trên phương diện chủ doanh nghiệp hai bên cùng có lợi Cơ sở của năng suất, chất Quản trị và chất lượng nguồn nhân lực cùng lượng với Công nghệ kỹ thuật cao Quan điểm, triết lý về nhân Con người là vốn quý, nguồn nhân lực cần viên trong doanh nghiệp được đầu tư phát triển Quyền thiết lập các chính Nhà nước cùng tổ chức, doanh nghiệp sách, thủ tục cán bộ Mối quan hệ giữa chiến lược, chính sách quản trị con Phối hợp với chiến lược, chính sách kinh người với chiến lược, chính doanh của tổ chức sách kinh doanh của tổ chức doanh nghiệp Định hướng hoạt động Dài hạn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguồn: Hà Văn Hội, 2006, Giáo trình Quản trị nhân lực, NXB Lao động xã hội. Khái niệm, đặc điểm, phân loại ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm, đặc điểm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp.
Các hoạt động giao dịch của ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác với mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động ngân hàng là kinh doanh và các nghiệp vụ ngân hàng như cung cấp tín dụng, nhận tiền gửi, tiền vay và các dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Đặc điểm của Ngân hàng thương mại: Thứ nhất: Mục tiêu lợi nhuận của hoạt động ngân hàng thương mại thực hiện qua các hình thức hình thức kinh doanh tiền và dịch vụ ngân hàng. Thể hiện qua các hoạt động khác nhau của ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời.
Ngân hàng là người đi vay rồi cho vay lại nhằm mục đích kiếm lời. Các hoạt động dịch vụ thông qua nghiệp vụ về tiền tệ, ngoại hối, thanh toán, chứng khoán [29, tr. Thứ hai: Ngân hàng thương mại phải có đầy đủ các điều kiện quy định của pháp luật về kinh doanh, vốn, phương án kinh doanh hoạt động ngân hàng thương mại phải tuân thủ theo quy định của pháp luật mới được phép hoạt động. Thứ ba: Hình thức kinh doanh của ngân hàng thương mại có tính chất rủi ro cao so với các hình hình thức kinh doanh khác.
Rủi ro đến từ những yếu tố khách quan và phía ngân hàng, khách hàng vay tiền. Như vậy, ngân hàng phải đối mặt với rủi ro cao, theo đó là rủi ro đối với những người gửi tiền ở ngân hàng thương mại cũng như rủi ro đối với nền kinh tế. Nhằm kiểm soát, làm giảm những tổn hại rủi ro đáng tiếc xảy ra do ngân hàng vỡ nợ gây ra, trong nền kinh tế thị trường, Chính phủ đã đặt ra những đạo luật riêng, nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh này được vận hành an toàn, hiệu quả trong nền kinh tế thị trường [29, tr. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhìn chung, hoạt động của Ngân hàng Thương mại gồm ba hoạt động chính đó là hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và các hoạt động trung [29, tr.
Hoạt động huy động vốn: Là hoạt động đầu tiên để các hoạt động khác tiếp theo của ngân hàng.