Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị nguồn nhân lực tại đơn vị sự nghiệp. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại Trung tâm Kiểm định chất lƣợng xây dựng Thái Nguyên. Chương 4: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Trung tâm Kiểm định chất lƣợng xây dựng Thái Nguyên. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP 1.
Cơ sở lý luận về quản trị nguồn nhân lực của đơn vị sự nghiệp 1. Khái quát về quản trị nguồn nhân lực tại đơn vị sự nghiệp 1. Nguồn nhân lực a) Khái niệm Theo quan điểm của Nguyễn Văn Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2010) thì: Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm những người lao động làm việc trong tổ chức đó. Trong định nghĩa này, chúng ta cần lƣu ý phân biệt NNL và nhân lực.
Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực (thể lực, trí lực và tâm lực) của mỗi con ngƣời. Nguồn lực này ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể bên ngoài của con ngƣời. Cho đến một ngày, nguồn lực này đủ lớn, đáp ứng các điều kiện để con ngƣời có thể tham gia vào lao động sản xuất. Chính vì điều đó, nhân lực tạo ra sự khác biệt so với các nguồn lực khác trong DN (nguồn vốn, công nghệ, máy móc thiết bị.
Nhân lực thể hiện trên ba tiêu chí là thể lực, trí lực và tâm lực, trong đó: Thể lực: Biểu hiện ở các chỉ tiêu về sức khỏe của con ngƣời trên phƣơng diện y tế nhƣ: chiều cao, cân nặng, xếp hạng sức khỏe. Thể lực phụ thuộc vào sức vóc, giới tính, độ tuổi, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. của từng NLĐ. Trí lực: Biểu hiện qua trình độ, năng lực và kỹ năng của con ngƣời.
Trình độ bao gồm: trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; lý luận chính trị; quản lý nhà nƣớc, tin học; ngoại ngữ. Năng lực gồm có năng lực tƣ duy và năng lực thực thi, thừa hành. Năng lực tƣ duy chia thành các cấp độ khác nhau nhƣ: biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, đánh giá, phản biện, sáng tạo…. Kỹ năng gồm: kỹ năng giao tiếp, quản lý thời gian, phân tích công việc, lập kế hoạch, phân công và phối hợp, làm việc nhóm, điều hành hội họp… Ngoài ra, nếu ngƣời lao động giữ vị trí lãnh đạo, quản lý còn cần có năng lực, kỹ năng lãnh đạo, quản lý; tập hợp, đoàn kết.
6 Tâm lực: Biểu hiện chủ yếu qua thái độ, trách nhiệm trong công việc của NLĐ. Thái độ và trách nhiệm là trạng thái tâm lý của NLĐ, đƣợc thể hiện ra bên ngoài bằng các hành vi, hành động cụ thể nhƣ: lời nói, việc làm, cử chỉ…Do vậy, tâm lực thƣờng đƣợc đánh giá thông qua tiêu chí: phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống của NLĐ. Tâm lực tạo ra động lực lao động sáng tạo, đóng góp cho lợi ích của tổ chức, cho bản thân NLĐ và đồng nghiệp. Qua phân tích có thể thấy, con ngƣời là nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của tổ chức.
Do vậy, khai thác hiệu quả nguồn lực này sẽ góp phần tạo nên thành công của mỗi đơn vị. Trong SXKD truyền thống, các tiềm năng về thể lực của con ngƣời đã đƣợc khai thác triệt để. Tuy nhiên, sự khai thác tiềm năng trí lực, tâm lực của con ngƣời đặc biệt là trong thời kỳ CMCN 4.0 phát triển mạnh mẽ nhƣ hiện nay còn ở mức mới m vì đây là kho tàng còn nhiều bí ẩn của con ngƣời. Do vậy, để nâng cao năng suất, chất lƣợng, các tổ chức cần nâng cao kiến thức, kỹ năng cho NLĐ.
Ngoài ra, chúng ta cũng có thể thấy, nguồn nhân lực của một tổ chức đề cập đến toàn bộ cán bộ công nhân viên (CBCNV) bao gồm số lƣợng, chất lƣợng và tiềm năng của đội ngũ ngƣời lao động, phù hợp và đáp ứng đƣợc yêu cầu của chiến lƣợc phát triển của tổ chức trong một thời kỳ nhất định. Tiềm năng đó bao gồm tổng hòa tiềm năng về thể lực, trí lực và tâm lực của ngƣời lao động có thể đáp ứng đƣợc yêu cầu và nhiệm vụ của tổ chức. b) Đặc điểm của nguồn nhân lực Nguồn nhân lực của tổ chức có một số đặc điểm chính nhƣ sau. Một là, NNL là đầu vào quan trọng nhất, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho tổ chức.
Từ cách tiếp cận của kinh tế học, nguồn lực của đơn vị có thể đƣợc chia thành 3 nhóm chính là lao động (nhân lực), tƣ bản và tài nguyên thiên nhiên. Trong bối cảnh CMCN 4.0, các yếu tố công nghệ, vốn, tài nguyên thiên nhiên đang giảm dần vai trò của nó, và nhân tố lao động, đặc biệt là tri thức chiếm vị trí ngày càng quan trọng. Do vậy, các tổ chức cần có chiến lƣợc đầu tƣ hiệu quả để xây dựng và phát triển NNL có chất lƣợng cao. 7 Hai là, NNL có quy mô lớn và đang tăng dần theo hàng năm.
Việt Nam đang trong thời kỳ dân số vàng, lực lƣợng lao động (LLLĐ) từ 15 tuổi của cả nƣớc rất dồi dào. Năm 2021, LLLĐ của cả nƣớc đạt 50,5 triệu ngƣời; trong đó, LLLĐ nữ đạt 23,5 triệu ngƣời, chiếm 46,5% LLLĐ của cả nƣớc, lao động nam là 27 triệu ngƣời, chiếm 53,5% (Tổng cục thống kê, 2021). Đây đƣợc coi là lợi thế của các DN trong việc phát triển nguồn nhân lực dồi dào. Ba là, NNL tại các đơn vị hiện nay còn có sự chênh lệch về giới tính, tỷ lệ nam - nữ, độ tuổi giữa một số đơn vị đặc thù nhƣ ngành viễn thông, điện lực, xây dựng.
Chẳng hạn, đối với ngành xây dựng, do đặc thù kỹ thuật của ngành nên lao động nam của những tổ chức này thông thƣờng sẽ lớn hơn lao động nữ. Bốn là, so với các nguồn lực tham gia vào quá trình hoạt động của tổ chức, NNL có những đặc điểm khác biệt. Thứ nhất, sức lao động nằm trong cơ thể của con ngƣời, muốn cho NV làm việc đạt năng suất tối đa nhất thì việc đầu tiên chính là phải đảm bảo tiền lƣơng và môi trƣờng làm việc cho họ. Mức tiền lƣơng phải tƣơng xứng để NLĐ có khả năng đảm bảo cuộc sống, ít nhất ở mức tối thiểu.
Môi trƣờng làm việc phải năng động, sáng tạo mới có thể khuyến khích nhân viên làm việc hiệu quả nhất. Thứ hai, trình độ của NLĐ có thể thay đổi theo nhiều hƣớng khác nhau. Nếu nhà quản lý biết động viên, khuyến khích, tạo điều kiện cho NLĐ học tập nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn và năng lực thì có thể giúp gia tăng NSLĐ của DN. Năm là, NNL tồn tại trong thị trƣờng cạnh tranh.
Trong thị trƣờng lao động, cạnh tranh là điều bắt buộc, cạnh tranh để sử dụng lao động và cạnh tranh để kiếm việc làm. Ngoài ra, ngày nay, nguồn nhân lực có tính toàn cầu. Ngƣời lao động có quyền dịch chuyển, đi đến nƣớc này nƣớc kia để tham gia lao động, và các nhà tuyển dụng cũng có quyền thuê lao động từ các nƣớc khác. c) Vai trò của nguồn nhân lực đối với tổ chức Thứ nhất: Nguồn nhân lực là nguồn lực chính tạo nên sự phát triển của đơn vị.
NNL đƣợc các nhà chiến lƣợc kinh doanh xem là nguồn lực quan trọng nhất của đơn vị. Nguyên nhân là vì các nhân viên có thể nâng cao trình độ nghiệp vụ từ đó làm tăng năng lực cạnh tranh của đơn vị theo thời gian, còn các nguồn lực khác không thể làm đƣợc nhƣ vậy. 8 Thứ hai, NNL quyết định khả năng cạnh tranh cho đơn vị. Ngày nay, xã hội đang dần chuyển sang nền kinh tế tri thức thì các nguồn vốn, các yếu tố nguyên vật liệu và máy móc không còn quá quan trọng nhƣ trƣớc nữa.
Ngƣợc lại, nguồn vốn trí tuệ, đƣợc xem là tài sản vô hình, sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định các chiến lƣợc, từ đó làm tăng khả năng cạnh tranh của tổ chức. Thứ ba, NNL làm tăng sự hài lòng của khách hàng đối với tổ chức. Sự gắn kết của một khách hàng đối với một tổ chức còn phụ thuộc vào mối quan hệ của khách hàng đó đối với nhân viên (NV). Do vậy, nhân viên có chất lƣợng tốt sẽ khuyến khích khách hàng sử dụng dịch vụ của đơn vị, từ đó họ sẽ trở thành những khách hàng trung thành.
Đây cũng là một đặc điểm chỉ có NNL mới thực hiện đƣợc. Thứ tư, NNL là vô tận. Khác với các nguồn lực khác, NNL là vô tận, nếu các nhà quản trị nhân sự biết khai thác nguồn lực này đúng mức sẽ đem lại hiệu quả cao cho việc tạo ra lợi nhuận. Thứ năm, NNL đảm bảo cho khả năng sáng tạo của tổ chức.
DN có thể sở hữu rất nhiều các nguồn lực đầu vào, tuy nhiên, chỉ có con ngƣời mới sáng tạo ra các hàng hoá, dịch vụ và kiểm tra quá trình SXKD đó. Nói cách khác, không có con ngƣời làm việc hiệu quả thì tổ chức đó không thể nào đạt đến mục tiêu. Quản trị nguồn nhân lực a) Khái niệm Có nhiều cách hiểu về quản trị nguồn nhân lực (hay còn gọi là quản trị nguồn nhân sự, quản trị nhân lực): Với tƣ cách là một trong các chức năng cơ bản của quá trình quản trị: “ uản trị nguồn nhân lực bao gồm các việc t ho ch định, tổ chức, ch huy, phối h p và iểm soát các ho t động liên quan đ n việc thu h t, s dụng và phát triển người lao động trong các tổ chức” (Nguyễn Văn Điềm, Nguyễn Ngọc Quân, 2010). QTNNL là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo - phát triển và duy trì con ngƣời của một tổ chức nhằm đạt đƣợc kết quả tối ƣu cho cả tổ chức lẫn nhân viên.
Với tƣ cách là một trong những chức năng cơ bản của quản trị tổ chức, QTNNL bao gồm việc hoạch định (kế hoạch hoá), tổ chức, chỉ huy và kiểm soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con ngƣời để có thể đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức. 9 Đi sâu vào nội dung chính của QTNNL thì “ uản trị nguồn nhân lực là việc tu ển dụng, s dụng, du tr và phát triển c ng như cung cấp các tiện nghi cho người lao động trong các tổ chức” (Nguyễn Văn Điềm, Nguyễn Ngọc Quân, 2010). Trong đó: Tuyển dụng bao gồm các công việc: Phân tích công việc; lập kế hoạch nhân lực; tuyển dụng nhân lực.