Tổng quan nghiên cứu

Quá trình tái cơ cấu và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã ghi nhận những bước chuyển mình mạnh mẽ về quy mô và chất lượng. Điển hình trong năm 2016, cả nước có 66 doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa với tổng giá trị đạt 40.206 tỷ đồng; sang năm 2017, con số này tiếp tục tăng lên 69 doanh nghiệp với tổng giá trị định giá lên tới 365.953 tỷ đồng. Nhiều thương vụ chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng đã thu về cho ngân sách nhà nước gần 2.000 tỷ đồng, tiêu biểu như trường hợp của Công ty Kỹ nghệ Súc sản VISSAN. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu cấp thiết về tính trung thực, minh bạch của các chỉ tiêu tài chính, đặc biệt là con số lợi nhuận được công bố trước thềm thoái vốn.

Tuy nhiên, thực trạng quản trị lợi nhuận trên cơ sở dồn tích tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước vẫn là một khoảng trống nghiên cứu lớn tại Việt Nam, nơi phần lớn các công trình trước đây chỉ tập trung vào khối công ty cổ phần niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX. Mục tiêu của công trình là tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm về hành vi can thiệp vào số liệu kế toán dồn tích và xác định mức độ tác động của hai nhóm nhân tố: đặc điểm doanh nghiệp và cơ chế quản lý - kiểm soát. Phạm vi nghiên cứu bao gồm 198 doanh nghiệp nhà nước trực thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các Tập đoàn kinh tế lớn trong giai đoạn 3 năm từ 2015 đến 2017, tương ứng với 594 quan sát công ty - năm. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa then chốt trong việc giúp các cơ quan quản lý nhà nước, ngân hàng thương mại và nhà đầu tư nhận diện rủi ro sai lệch số liệu kế toán, từ đó đưa ra quyết định chuẩn xác hơn trong hoạt động thoái vốn và cấp tín dụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng ba lý thuyết nền tảng trong kinh tế học và kế toán tài chính để xây dựng các giả thuyết thực chứng:

Thứ nhất, Lý thuyết ủy nhiệm của Jensen và Meckling năm 1976 đóng vai trò cốt lõi. Trong doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, quyền sở hữu thuộc về toàn dân do Nhà nước đại diện, trong khi quyền quản lý được giao cho Hội đồng thành viên và Ban giám đốc theo Luật số 69/2014/QH13. Sự tách biệt này làm nảy sinh xung đột lợi ích khi các nhà quản trị có xu hướng tối đa hóa tiền lương, tiền thưởng và thành tích cá nhân thông qua việc điều chỉnh các chỉ tiêu lợi nhuận được giao.

Thứ hai, Lý thuyết kế toán thực chứng của Watts và Zimmerman năm 1986 và 1990 cung cấp khung giải thích hành vi lựa chọn chính sách kế toán dồn tích dựa trên ba giả thuyết: giả thuyết kế hoạch thưởng, giả thuyết hợp đồng vay nợ và giả thuyết chi phí chính trị.

Thứ ba, Lý thuyết bất cân xứng thông tin của Akerlof, Spence và Stiglitz giải thích tình trạng bên trong doanh nghiệp nắm giữ thông tin vượt trội so với các cơ quan thanh tra và chủ nợ bên ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc can thiệp vào các ước tính kế toán.

Bên cạnh đó, ba khái niệm chính được làm rõ bao gồm: Quản trị lợi nhuận trên cơ sở dồn tích, Khoản dồn tích không thể điều chỉnh dựa trên điều kiện hoạt động kinh doanh khách quan, và Khoản dồn tích có thể điều chỉnh phản ánh sự can thiệp chủ quan của người điều hành.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng trên tập dữ liệu bảng thứ cấp. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 198 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp chọn mẫu có chủ đích, dựa trên điều kiện công khai minh bạch báo cáo tài chính và báo cáo thực trạng quản trị giai đoạn 2015-2017 từ Cổng thông tin doanh nghiệp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng hệ thống website của Sở Tài chính các địa phương.

Biến phụ thuộc đại diện cho mức độ quản trị lợi nhuận là giá trị tuyệt đối của khoản dồn tích có thể điều chỉnh, được đo lường thông qua mô hình hiệu chỉnh Modified Jones năm 1995. Quy trình phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, ma trận tương quan Pearson, và tiến hành kiểm định các mô hình hồi quy OLS gộp, mô hình tác động cố định FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên REM.

Sau khi kiểm định Hausman và phát hiện các khuyết tật về hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan với mức ý nghĩa p dưới 0,05, tác giả lựa chọn phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu tổng quát khả thi FGLS. Phương pháp FGLS là lựa chọn tối ưu vì có khả năng khắc phục triệt để các vi phạm giả định hồi quy cổ điển, đảm bảo các ước lượng hệ số đạt tính chất vững và hiệu quả cao nhất trên cấu trúc dữ liệu bảng 3 năm liên tục.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích hồi quy FGLS trên mẫu 198 doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2015-2017 đã chỉ ra những phát hiện thực nghiệm quan trọng:

Thứ nhất, khả năng sinh lợi của tài sản có tác động cùng chiều mạnh nhất đến mức độ quản trị lợi nhuận với mức ý nghĩa thống kê 1%. Khi tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản tăng, mức độ can thiệp vào các khoản dồn tích có xu hướng gia tăng rõ rệt, phản ánh áp lực duy trì tăng trưởng lợi nhuận theo các chỉ tiêu kế hoạch được cấp có thẩm quyền giao phó.

Thứ hai, hệ số nợ trên tổng tài sản có tác động nghịch chiều đến mức độ quản trị lợi nhuận ở mức ý nghĩa 5%. Doanh nghiệp có tỷ lệ đòn bẩy tài chính thấp lại có mức độ điều chỉnh lợi nhuận cao hơn khoảng 12% đến 18% so với nhóm có đòn bẩy tài chính cao.

Thứ ba, về cơ chế quản lý và kiểm soát, việc kiêm nhiệm chức danh giữa Chủ tịch Hội đồng thành viên và Giám đốc điều hành làm gia tăng đáng kể hành vi quản trị lợi nhuận. Đồng thời, quy mô Hội đồng thành viên có mối tương quan cùng chiều với mức độ quản trị lợi nhuận; các doanh nghiệp có quy mô hội đồng trên 5 thành viên ghi nhận biên độ dồn tích điều chỉnh cao hơn các hội đồng tinh gọn.

Thứ tư, giới tính của Giám đốc điều hành có tác động kiềm chế hành vi quản trị lợi nhuận ở mức ý nghĩa 10%. Các doanh nghiệp do nữ giới đảm nhận vai trò Giám đốc điều hành có giá trị tuyệt đối của khoản dồn tích điều chỉnh thấp hơn khoảng 14,5% so với các doanh nghiệp do nam giới điều hành.

Thứ năm, thời gian hoạt động của doanh nghiệp có mối quan hệ đồng biến nhưng mức độ tác động yếu nhất trong mô hình.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét nguyên nhân sâu xa, khả năng sinh lợi tác động thuận chiều mạnh nhất cho thấy các nhà quản lý doanh nghiệp nhà nước thường sử dụng các khoản dồn tích để dàn xếp lợi nhuận, tránh tình trạng lợi nhuận biến động quá mạnh giữa các năm nhằm đảm bảo việc hoàn thành kế hoạch liên tục.

Trái ngược với các nghiên cứu trên công ty niêm yết của Saleh năm 2005 hay Lazzem và Jilani năm 2018 vốn cho rằng đòn bẩy tài chính thúc đẩy quản trị lợi nhuận để tránh vi phạm hợp đồng nợ, kết quả tại khối doanh nghiệp nhà nước cho thấy đòn bẩy nợ cao lại hạn chế hành vi này. Điều này được lý giải bởi các doanh nghiệp nhà nước có tỷ lệ nợ vay cao thường chịu sự giám sát chặt chẽ từ các tổ chức tín dụng nhà nước và cơ quan đại diện chủ sở hữu, làm giảm cơ hội thao túng kế toán.

Về quản trị công ty, sự kiêm nhiệm giữa Chủ tịch Hội đồng thành viên và Giám đốc điều hành làm suy giảm tính độc lập của hoạt động giám sát, tập trung quyền lực vào một cá nhân và tạo điều kiện trực tiếp cho việc can thiệp vào báo cáo tài chính. Kết quả này củng cố phát hiện của Đinh Ngọc Tú năm 2016 tại thị trường Việt Nam. Quy mô Hội đồng thành viên lớn làm phát sinh sự chậm trễ trong phối hợp và phân tán trách nhiệm, dẫn đến hiệu quả kiểm soát thấp hơn. Trong khi đó, tính cẩn trọng và xu hướng tuân thủ chuẩn mực cao hơn của các nữ giám đốc điều hành đã giúp giảm thiểu rủi ro điều chỉnh báo cáo tài chính.

Các phân tích định lượng trên được thể hiện rõ nét qua bảng tổng hợp hệ số hồi quy FGLS và biểu đồ phân tán phần dư dồn tích, làm nổi bật thứ bậc tác động suy giảm dần: Khả năng sinh lợi, Hệ số nợ, Sự kiêm nhiệm quản lý, Quy mô Hội đồng thành viên, và Thời gian hoạt động.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm từ nghiên cứu, 4 nhóm giải pháp cụ thể được đề xuất nhằm nâng cao tính minh bạch của thông tin kế toán tại các doanh nghiệp nhà nước:

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế phân tách quyền lực quản trị. Cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước và Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần thực thi nghiêm ngặt quy định không cho phép Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm nhiệm chức danh Tổng giám đốc hoặc Giám đốc điều hành tại 100% doanh nghiệp nhà nước, hoàn thành việc kiện toàn nhân sự trong vòng 12 tháng kể từ khi ban hành quy chế.

Thứ hai, tái cơ cấu quy mô Hội đồng thành viên theo hướng tinh gọn. Các Bộ quản lý ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần rà soát và chuẩn hóa số lượng thành viên Hội đồng thành viên trong khoảng từ 3 đến 5 người, cắt giảm các vị trí mang tính hình thức nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình và tăng hiệu quả giám sát báo cáo tài chính lên tối thiểu 25%.

Thứ ba, tăng cường tỷ lệ lãnh đạo nữ trong ban điều hành. Doanh nghiệp cần xây dựng lộ trình nâng tỷ lệ nữ giới trong Hội đồng thành viên và Ban giám đốc đạt mức tối thiểu 30% trong giai đoạn trung hạn từ 3 đến 5 năm, tận dụng phẩm chất cẩn trọng và tính tuân thủ pháp lý cao của phụ nữ để hạn chế các sai phạm trong báo cáo dồn tích.

Thứ tư, đổi mới phương pháp đánh giá và kiểm toán định kỳ. Bộ Tài chính và Kiểm toán Nhà nước cần xây dựng hệ thống chỉ báo cảnh báo sớm về các khoản dồn tích bất thường định kỳ 6 tháng một lần, đồng thời yêu cầu các doanh nghiệp chuẩn bị cổ phần hóa phải thuê các công ty kiểm toán độc lập thuộc nhóm đầu ngành để kiểm toán báo cáo tài chính trước thời điểm định giá tối thiểu 2 năm tài chính liên tiếp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước bao gồm Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Luận văn cung cấp căn cứ thực tế để hoàn thiện chính sách giao chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh, định mức khen thưởng và tiêu chuẩn hóa cơ cấu tổ chức bộ máy lãnh đạo tại các tổng công ty, tập đoàn nhà nước.

Thứ hai, các tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại. Cán bộ thẩm định tín dụng có thể sử dụng mô hình bóc tách dồn tích từ nghiên cứu để đánh giá chất lượng dòng tiền thực tế, loại trừ các khoản lợi nhuận kế toán ảo trước khi cấp các khoản vay trung và dài hạn có giá trị hàng trăm tỷ đồng.

Thứ ba, các nhà đầu tư tổ chức và cá nhân tham gia vào tiến trình cổ phần hóa. Nghiên cứu cung cấp công cụ nhận diện các dấu hiệu làm đẹp báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp nhà nước trước đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng, giúp định giá chính xác giá trị nội tại của doanh nghiệp.

Thứ tư, các giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán. Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về kỹ thuật xử lý dữ liệu bảng bằng phương pháp FGLS và việc vận dụng mô hình đo lường quản trị lợi nhuận dồn tích trong bối cảnh các thị trường mới nổi.

Câu hỏi thường gặp

Quản trị lợi nhuận trên cơ sở dồn tích tại doanh nghiệp nhà nước khác gì so với công ty cổ phần niêm yết? Tại các công ty cổ phần niêm yết, động cơ chính thường là đẩy giá cổ phiếu hoặc đáp ứng kỳ vọng của các nhà phân tích thị trường. Ngược lại, ở doanh nghiệp nhà nước, động cơ xuất phát từ việc hoàn thành các chỉ tiêu giao khoán của cơ quan chủ quản để bảo toàn mức xếp loại doanh nghiệp và tối đa hóa quỹ tiền lương, tiền thưởng hàng năm.

Tại sao đòn bẩy tài chính lại có tác động nghịch chiều đến quản trị lợi nhuận trong nghiên cứu này? Khoảng 70% các khoản vay của doanh nghiệp nhà nước chịu sự kiểm tra ngặt nghèo từ ngân hàng quốc doanh và các cơ quan giám sát tài chính công. Khi hệ số nợ càng cao, tần suất thanh tra càng lớn, làm thu hẹp đáng kể không gian để các nhà quản lý thực hiện các thủ thuật can thiệp vào các khoản dồn tích kế toán.

Yếu tố giới tính của Giám đốc điều hành ảnh hưởng như thế nào đến tính minh bạch của báo cáo tài chính? Các bằng chứng thực nghiệm trên 198 doanh nghiệp cho thấy Giám đốc điều hành là nữ thường có mức độ chấp nhận rủi ro thấp hơn và xu hướng tuân thủ các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cao hơn nam giới. Điều này giúp giảm thiểu khoảng 14,5% giá trị các khoản dồn tích bất thường phát sinh trong kỳ báo cáo tài chính.

Tại sao phương pháp hồi quy FGLS lại vượt trội hơn các mô hình hồi quy thông thường trong đề tài? Khi xử lý dữ liệu bảng gồm 594 quan sát trong 3 năm, các mô hình OLS, FEM và REM đều gặp phải hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan với p nhỏ hơn 0,05. Phương pháp FGLS hiệu chỉnh toàn bộ ma trận hiệp phương sai của phần dư, giúp các ước lượng hệ số không bị chệch và đảm bảo độ tin cậy thống kê cao.

Dữ liệu của 198 doanh nghiệp trong giai đoạn 2015-2017 có phản ánh đúng thực trạng hiện nay không? Mẫu nghiên cứu bao quát 198 doanh nghiệp thuộc đầy đủ các bộ, ngành và địa phương trọng điểm trên cả nước. Đây là giai đoạn bản lề của Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, do đó các kết luận rút ra vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc cho công tác quản trị hiện đại.

Kết luận

  • Luận văn đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm toàn diện về sự tồn tại của hành vi quản trị lợi nhuận trên cơ sở dồn tích tại 198 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước tại Việt Nam giai đoạn 2015-2017.
  • Khẳng định khả năng sinh lợi của tài sản là nhân tố tác động cùng chiều mạnh nhất, trong khi hệ số nợ có tác động kìm hãm hành vi can thiệp vào số liệu kế toán.
  • Chứng minh rõ nét vai trò tiêu cực của sự kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo và quy mô Hội đồng thành viên quá lớn đối với tính minh bạch của thông tin tài chính.
  • Ghi nhận đóng góp thực nghiệm mới về tác động tích cực của Giám đốc điều hành là nữ giới trong việc kiểm soát và làm giảm mức độ thao túng báo cáo tài chính.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về cơ cấu tổ chức và kiểm toán độc lập nhằm nâng cao hiệu quả giám sát vốn nhà nước.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2021 trở đi, các nghiên cứu cần mở rộng thêm khung thời gian và đưa thêm biến số chất lượng kiểm toán độc lập vào mô hình phân tích. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách hãy khai thác ngay nguồn học liệu chuyên sâu này để tối ưu hóa quy trình đánh giá và quản trị doanh nghiệp nhà nước một cách hiệu quả nhất.