chương 1, tác giả tóm lược các nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến các nhân tố tác động đến việc QTLN trên cơ sở dồn tích của doanh nghiệp. Qua đó, tác giả tóm tắt các nghiên cứu trước và xác định khe hổng nghiên cứu. Một số nghiên cứu nước ngoài: Tác giả tổng hợp một số nghiên cứu nước ngoài liên quan đến các nhóm yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc QTLN của các doanh nghiệp như sau: Saleh và cộng sự (2005) thực hiện nghiên cứu tác động của HĐQT đến việc QTLN của 561 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Kuala Lumpur của Malaysia năm 2001. Các tác giả sử dụng mô hình Jones (1991) để đo lường khoản dồn tích có thể điều chỉnh, đại diện cho việc QTLN của doanh nghiệp.
Kết quả nghiên cứu toàn bộ mẫu cho thấy nhóm các nhân tố tác động cùng chiều đến QTLN gồm: tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản, hệ số nợ trên tổng tài sản, sự kiêm nhiệm giữa Giám đốc điều hành (CEO) và chức danh Chủ tịch HĐQT; nhóm các nhân tố tác động ngược chiều đến quản trị lợi nhuận gồm: quy mô công ty và tỷ lệ sở hữu của các nhà quản lý. Khi các tác giả xét theo từng nhóm doanh nghiệp có sự kiêm nhiệm và không có sự kiêm nhiệm của Chủ tịch HĐQT và CEO, tác động của các nhân tố trên đến quản trị lợi nhuận vẫn không đổi, ngoại trừ trường hợp đòn bẩy tài chính không có ý nghĩa thống kê khi nghiên cứu với nhóm doanh nghiệp không có sự kiêm nhiệm. Ngoài ra, nghiên cứu của các tác giả không tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê về tác động của quy mô HĐQT và sự độc lập của HĐQT đến việc quản trị lợi nhuận. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Rahman và Ali (2006) tập trung nghiên cứu về ảnh hưởng của chức năng giám sát của HĐQT, ban kiểm soát và sự tập trung quyền sở hữu trong việc giảm QTLN của mẫu gồm 97 doanh nghiệp lớn nhất niêm yết trên thị trường chứng khoán của Malaysia trong hai năm 2002, 2003.
Việc QTLN của các doanh nghiệp được xác định thông qua giá trị dồn tích có thể điều chỉnh được đo lường bằng mô hình Modified Jones (1995). Kết quả chỉ ra rằng việc QTLN có quan hệ cùng chiều với quy mô HĐQT, tức là HĐQT có quy mô lớn sẽ phát sinh sự không hiệu quả trong thực hiện vai trò của mình khi so với HĐQT có quy mô nhỏ hơn. Các tác giả lập luận rằng khi quy mô HĐQT nhỏ hơn thì có thể HĐQT tập trung vào giải quyết các vụ việc phát sinh, ngược lại quy mô HĐQT lớn hơn sẽ khó kiểm soát hơn và có thể có mâu thuẫn lợi ích giữa các thành viên, dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình giám sát việc thực hiện QTLN của doanh nghiệp. Đối với sự độc lập của HĐQT và ban kiểm soát, các tác giả không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với việc QTLN.
Lý giải cho điều này, các tác giả phát biểu rằng có thể nhà quản lý đã kiểm soát việc lựa chọn những thành viên HĐQT từ bên ngoài, hoặc những thành viên này thiếu hiểu biết về hoạt động kinh doanh của công ty. Ngoài ra, các tác giả cũng thấy rằng quy mô doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp thì có quan hệ ngược chiều với QTLN. Hashim và Devi (2008) tiến hành phân tích ảnh hưởng của sự độc lập của HĐQT, sự tách biệt hai vai trò Chủ tịch HĐQT và CEO đến việc QTLN của 167 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Malaysia trong năm 2004. Biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu là giá trị dồn tích có thể điều chỉnh (đại diện cho việc QTLN), được đo lường bằng mô hình Modified Jones (1995).
Dựa trên giá trị khoản dồn tích có thể điều chỉnh, các tác giả chia mẫu nghiên cứu thành 2 nhóm nhỏ là nhóm thực hiện điều chỉnh tăng lợi nhuận và nhóm thực hiện điều chỉnh giảm lợi nhuận. Kết quả hồi quy cho thấy đối với nhóm điều chỉnh lợi nhuận theo hướng tăng lên, sự độc lập của HĐQT có ảnh hưởng tích cực đến việc QTLN, trong khi sự kiêm nhiệm của CEO không có tác động có ý nghĩa thống kê đối với hành động QTLN. Đối với nhóm điều chỉnh nhuận theo hướng giảm xuống, sự độc lập TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 của HĐQT và sự kiêm nhiệm của CEO đều không có tác động có ý nghĩa thống kê đến việc điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp. Các kết quả này đã không ủng hộ cho lập luận rằng gia tăng tính độc lập của HĐT và tách bạch vai trò của CEO và chủ tịch HĐQT sẽ làm giảm được hành động điều chỉnh lợi nhuận.
Bên cạnh kết quả này, các tác giả tìm thấy bằng chứng về sự tác động ngược chiều của hệ số nợ trên tổng tài sản và dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh đến việc QTLN của doanh nghiệp. Tuy nhiên, quy mô doanh nghiệp không tác động có ý nghĩa thống kê đối với việc QTLN của doanh nghiệp cả hai nhóm nhỏ nêu trên. Sarkar và cộng sự (2008) tiến hành nghiên cứu với mục tiêu chính là phân tích quan hệ giữa các đặc điểm của HĐQT và việc QTLN của các doanh nghiệp ở Ấn Độ. Với mẫu nghiên cứu gồm 964 quan sát công ty - năm của 500 công ty lớn niêm yết trên thị trường chứng khoán Bombay của Ấn Độ trong năm 2003 và 2004, các tác giả phân tích mối quan hệ trên ở hai khía cạnh: thứ nhất là quan hệ giữa sự độc lập của HĐQT với QTLN, thứ hai là mối quan hệ của các đặc tính đại diện cho chất lượng của HĐQT với việc QTLN.
Các tác giả đã dùng mô hình Jones (1991) để tính khoản dồn tích có thể điều chỉnh - đại diện cho việc QTLN của doanh nghiệp. Sau khi thực hiện nhiều mô hình hồi quy khác nhau, các tác giả rút ra kết luận là chất lượng HĐQT thì đóng vai trò quan trọng trong việc giảm QTLN, trong khi sự độc lập của HĐQT thì không thấy vai trò này. Cụ thể hơn, nghiên cứu cho thấy tỷ lệ số cuộc họp HĐQT có sự tham dự của thành viên HĐQT độc lập thì sẽ làm giảm mức độ QTLN; HĐQT mà không có sự tham gia của cổ đông lớn có quyền kiểm soát thì doanh nghiệp sẽ có mức QTLN thấp hơn; trong khi đó, sự kiêm nhiệm của CEO có liên quan đến mức QTLN cao hơn. Bên cạnh đó, đòn bẩy tài chính có quan hệ cùng chiều, trong khi quy mô doanh nghiệp thì không có quan hệ có ý nghĩa thống kê đối với QTLN.
Gul và cộng sự (2009) tập trung nghiên cứu về vai trò của nhiệm kỳ kiểm toán và chuyên ngành kiểm koán của công ty kiểm toán đối với chất lượng thu thập của các doanh nghiệp được kiểm toán bởi những công ty kiểm toán lớn. Trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 nghiên cứu này, nhiệm kỳ kiểm toán nghĩa là số năm mà doanh nghiệp duy trì việc kiểm toán bởi duy nhất một công ty kiểm toán, chuyên ngành kiểm toán của công ty kiểm toán được xác định bởi thị phần lớn nhất của công ty kiểm toán trong mỗi nhóm ngành, chất lượng thu thập của doanh nghiệp được đại diện bởi khoản dồn tích có thể điều chỉnh. Dữ liệu nghiên cứu gồm 32.777 quan sát doanh nghiệp - năm trong giai đoạn 1993 đến 2004, lấy từ nguồn dữ liệu của Compustat (cơ sở dữ liệu về các thông tin thị trường và tài chính của các doanh nghiệp, các chỉ số chứng khoán, các ngành công nghiệp được cung cấp bởi Standard and Poor’s). Biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu là giá trị tuyệt đối của khoản dồn tích có thể điều chỉnh (chia tổng tài sản) được xác định bởi nhiều mô hình, trong đó có mô hình Jones (1991), mô hình Kothari và cộng sự (2005).
Phương pháp hồi quy 2SLS (two- stage least squares) được sử dụng trong nghiên cứu này. Các tác giả đã thực hiện rất nhiều phân tích hồi quy và đi đến kết luận chung là mối quan hệ giữa nhiệm kỳ kiểm toán ngắn và chất lượng thu nhập thấp thì yếu hơn đối với các công ty được kiểm toán bởi công ty kiểm toán chuyên ngành khi so sánh với các công ty được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán khác. Kết quả này có thể được hiểu là thông thường khi nhiệm kỳ kiểm toán ngắn thì khả năng công ty kiểm toán phát hiện được các sai sót, nhầm lẫn của khách hàng sẽ thấp hơn vì thiếu hiểu biết về khách hàng cũng như chưa làm quen với hoạt động kinh doanh của khách hàng. Tuy nhiên, trong trường hợp này, nếu công ty kiểm toán là công ty kiểm toán chuyên ngành trong lĩnh vực kinh doanh của khách hàng thì tình trạng này không xảy ra.
Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa các biến thời gian hoạt động, quy mô doanh nghiệp, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh với biến phụ thuộc là giá trị tuyệt đối của khoản dồn tích có thể điều chỉnh; trong khi tốc độ tăng trưởng doanh thu thì có quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc. Peni và Vahamaa (2010) tiến hành nghiên cứu về mối quan hệ giữa QTLN và giới tính của những người điều hành doanh nghiệp, cụ thể là CEO và giám đốc tài chính. Câu hỏi được đặt ra là liệu các nhà điều hành là nữ có tác động đến chất lượng của thông tin BCTC hay không, và nếu có thì như thế nào. Mẫu nghiên cứu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 gồm có 391 công ty tại chúng rất lớn của Mỹ thuộc danh sách xác định chỉ số S&P 500 tại thời điểm tháng 7 năm 2007.
Dữ liệu giai đoạn 2003 đến 2007 của 391 công ty tạo thành bộ dữ liệu gồm 1.995 quan sát doanh nghiệp – năm. Trước tiên, các tác giả đo lường chất lượng của lợi nhuận được báo cáo bằng cách sử dụng biến đại diện là việc QTLN (chính là khoản dồn tích có thể điều chỉnh). Kết quả chính của bài nghiên cứu cho thấy giới tính của người điều hành có ảnh hưởng đến chất lượng của thông tin BCTC, cụ thể doanh nghiệp có giám đốc tài chính là nữ thì thường có khoản dồn tích có thể điều chỉnh theo hướng giảm lợi nhuận. Tuy nhiên, các tác giả không tìm thấy bằng chứng về quan hệ giữa giới tính và CEO và việc QTLN.