Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị hoạt động truyền thông nội bộ tại doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng quản trị hoạt động truyền thông nội bộ tại Tập đoàn SCI Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao quản trị hoạt động truyền thông nội bộ tại Tập đoàn SCI trong thời gian tới. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG NỘI BỘ TẠI DOANH NGHIỆP 1. Những khái niệm cơ bản 1.1 Truyền thông Truyền thông (communication) là trao đổi thông tin giữa người với người thông qua cách truyền đạt, suy nghĩ, ý kiến hay thông qua các phương tiện về hình ảnh, âm thanh hoặc chữ viết. Khái niệm communication trong tiếng Latin có nghĩa là “to share” (chia sẻ).Từ các định nghĩa và quan điểm về truyền thông nói trên cho thấy: “Truyền thông là việc truyền đạt thông tin”.
Ở đây, chúng ta hiểu truyền thông là việc trao đổi, lan tỏa thông tin thông qua việc sử dụng lời nói, chữ viết hình ảnh hay bất kỳ phương thức nào nhằm tác động đến nhận thức, tư duy của đối tượng được hướng đến. Hiện nay có rất nhiều những quan niệm và định nghĩa khác nhau về truyền thông, và tuỳ từng lĩnh vực và góc độ nghiên cứu khác nhau mà con người cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau về truyền thông. Sự phát triển của truyền thông cũng dựa và sự phát triển của loài người và cũng dựa vào điều kiện kinh tế xã hội và sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Với mỗi giai đoạn phát triển và với mỗi con người thì định nghĩa về truyền thông cũng khác nhau.
Theo Frank Dance,1970, “Truyền thông là quá trình làm cho cái trước đây là độc quyền của một hoặc vài người trở thành cái chung của hai hoặc nhiều người”. Khái niệm truyền thông cũng được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau: Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Truyền thông đại chúng đưa ra định 10 nghĩa: “Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau”. Trong cuốn Truyền thông, lý thuyết và kỹ năng cơ bản của tác giả Nguyễn Văn Dững – Đỗ Thị Thu Hằng đưa ra khái niệm về truyền thông như sau: “Truyền thông ở bình diện tổng quát được hiểu là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội. Như vậy, có thể khái quát lại, truyền thông là một chuỗi các hoạt nhằm mục đích thiết lập các thông tin hai chiều, duy trì mối quan hệ của tổ chức, đơn vị đối với công chúng muốn tiếp nhận thông tin.
Nhằm giúp tăng cường mối quan hệ, sự hiểu biết lẫn nhau cũng như thay đổi nhận thức để điều chỉnh hành vi, thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm và của cộng đồng xã hội. Cũng trong cuốn sách “Truyền thông, lý thuyết và kỹ năng cơ bản” của tác giả Nguyễn Văn Dững (chủ biên) đã chỉ ra truyền thông bao gồm 6 yếu tố chính tham dự: Thứ nhất, Nguồn phát là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông. Nguồn phát là một người hay một nhóm người mang nội dung thông tin trao đổi với người hay nhóm người khác. Thứ hai, Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận.
Thông điệp có thể được thể hiện bằng các tín hiệu ngôn ngữ nói hoặc viết và các tín hiệu phi ngôn ngữ (trang phục, cử chỉ, điệu bộ, hình vẽ, tín hiệu biển báo). Thứ ba, Kênh truyền thông là cách thức hoặc các phương tiện, con đường truyền tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. kênh có 11 thể là một bức thư, một cuốn sách, một bản tin nội bộ, một chương trình phát thanh hay truyền hình… Thứ tư, Người nhận là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông. Trong quá trình truyền thông, nguồn phát và đối tượng tiếp nhận có thể đổi chỗ cho nhau, tương tác và đan xen vào nhau.
Về mặt thời gian, nguồn phát thực hiện hành vi khởi phát quá trình truyền thông trước. Thứ năm, Nhiễu là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trước trong quá trình truyền thông (tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý…) dẫn đến tình trạng thông điệp, thông tin sai lệch. Thứ sáu, phản hồi là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp từ người nhận trở về nguồn phát. Phản hồi có vai trò quan trọng như cách kiểm chứng liệu sự hiểu biết cần thiết mà người phát muốn tạo ra ở người nhận thực sự đã được tạo ra chưa.
Bên cạnh đó, có hai yếu tố là hiệu lực và hiệu quả của truyền thông cũng được đánh giá là quan trọng trong quá trình truyền thông. Hiệu lực là khả năng tạo sự thu hút và chú ý cho công chúc mục tiêu. Hiệu quả là sự tác động đến nhận thức, thái đội và hành vi của công chúng một cách phù hợp với mong muốn của nhà làm truyền thông. Hiệu lực và hiệu quả có mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ với nhau.2 Truyền thông nội bộ (PR nội bộ) Khi nói đến truyền thông của một tổ chức, khái niệm truyền thông nội và truyền thông bên ngoài được mọi người nhìn nhận một cách rõ ràng.
Vậy truyền thông nội bộ sẽ thực hiện việc hoạt động truyền thông đối với nhóm công chúng nội bộ trong tổ chức/doanh nghiệp. Trong khuôn khổ luận văn này, thuật ngữ “truyền thông nội bộ” hay còn gọi là “PR nội bộ” là khái niệm sẽ được sử dụng một cách giống nhau. 12 Truyền thông nội bộ là hoạt động chủ yếu tại tổ chức/doanh nghiệp hướng đến nhóm đối tượng trong doanh nghiệp. Với các hoạt động khác như tổ chức sự kiện, tri ân khách hàng, quan hệ báo chí….
Thì đối tượng hướng đến là ngoài doanh nghiệp. Có thể hiểu theo cách đơn giản nhất, Truyền thông nội bộ là những hoạt động truyền thông diễn ra bên trong của doanh nghiệp, dành cho các nhân viên của doanh nghiệp đó. Bản thân từ “nội bộ” đã thể hiện khá rõ về truyền thông nội bộ. Mục đích truyền thông nội bộ là mang đến một môi trường làm việc chuyên nghiệp và quan trọng hơn cả là giúp cho tất cả các thành viên trong tổ chức, doanh nghiệp hiểu được sứ mệnh và mục tiêu của tổ chức mình.
Xây dựng được mối quan hệ tình cảm thân thiện và tốt đẹp trong nội bộ doanh nghiệp. Từ đó tạo ra động lực cho các thành viên cống hiến hết mình vì sự nghiệp chung. Truyền thông nội bộ còn được nhìn nhận ở góc độ giữa nhà quản lý với đội ngũ nhân viên. Sự tương tác, trao đổi thông tin giữa lãnh đạo với nhân viên cũng bị ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng đến văn hoá doanh nghiệp.
Trong cuốn sách “PR lý luận và ứng dụng” của tác giả Đinh Thị Thúy Hằng (chủ biên) đã khái quát hóa về truyền thông nội bộ: “PR nội bộ là chức năng quản lý nhằm tạo ra và gây dựng mối quan hệ có lợi và tốt đẹp giữa lãnh đạo của tổ chức, cơ quan với công chúng nội bộ để đi tới thành công chung của tổ chức hoặc cơ quan đó” [9, tr93]. Những năm gần đây, nhận thức rõ vai trò quan trọng của truyền thông nội bộ, nhiều doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức đã quan tâm, chú trọng tới công tác này. Tuy nhiên, hiểu và ứng dụng truyền thông nội bộ thì không không hề đơn giản và nó còn phụ thuộc vào những nét đặc thù của doanh nghiệp. Truyền thông nội bộ được xác định bao gồm các hoạt động truyền thông về tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị cốt lõi, mục tiêu chiến lược của tổ chức, hoạt động truyền thông về các quy định, chính sách và sự thay đổi của tổ chức.
Truyền thông về các hoạt động, sự kiện và hoạt động truyền thông gắn kết. 13 Truyền thông nội bộ là quá trình trao đổi thông điệp 2 chiều giữa nhân viên và quản lý, nhân viên và nhân viên, tạo ra quá trình trao đổi thông tin liên tục để triển khai công việc 1 cách có hiệu quả. Thực hiện tốt truyền thông nội bộ sẽ giúp tạo ra môi trường làm việc thân thiện, cởi mở cho mọi người, tăng cường sự gắn bó của nhân viên với tổ chức, từ đó xây dựng được các nhóm làm việc vững mạnh và cải thiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Sau khi xem xét nhiều khái niệm khác nhau về Truyền thông và Truyền thông nội bộ, tác giả cho rằng, truyền thông nội bộ trước hết là một hoạt động truyền thông, vì vậy, nó vẫn kế thừa các đặc tính của truyền thông và được giới hạn phạm vi đối tượng qua cụm từ “nội bộ”.
Như vậy có thể nói: truyền thông nội bộ là quá trình liên tục truyền đạt, trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… qua lại giữa các đối tượng bên trong một tổ chức, quốc gia hoặc cộng đồng nói chung nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của tổ chức, Quốc gia hoặc cộng đồng đó. Truyền thông nội bộ được xác định bao gồm các hoạt động truyền thông về tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị cốt lõi, mục tiêu chiến lược của tổ chức; hoạt động truyền thông về các quy định, chính sách và sự thay đổi của tổ chức; truyền thông về các hoạt động, sự kiện, đào tạo và hoạt động truyền thông gắn kết.3 Quản trị Đầu những năm 1980, khái niệm quản trị được sử dụng ngày càng phổ biến hơn với hàm nghĩa rộng hơn. Theo Harold Koontz và Cyril O’Donnell: “Quản trị là thiết lập và duy trì một môi trường mà các cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết quả”. Theo Robert Albanese: “Quản trị là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục tiêu của tổ chức”.
14 Bản chất của quản trị là tạo ra giá trị thặng dư, chức năng chính của quản trị là việc đưa ra các quyết định. Quản trị được hình thành thông qua ít nhất 3 yếu tố cơ bản sau: chủ thể quản trị, đối tượng quản trị và nguồn lực, mục tiêu của quản trị.