MỞ ĐẦU 1. Tín ấp t ết ủ đề tà Theo xu hƣớng toàn cầu hóa, tính cạnh tranh trong kinh doanh cũng ngày càng khốc liệt hơn trƣớc rất nhiều. Điều này đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp phải đối mặt với thách thức trong việc quản lý và kiểm soát dòng chảy hàng hóa, thông tin và tài chính một cách hiệu quả. Trong môi trƣờng kinh doanh hiện nay, hoạt động logistics là một trong những nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cùng ngành.
Doanh nghiệp nào xây dựng đƣợc hệ thống logistics hợp lý, nhanh nhạy, sáng tạo sẽ chiếm ƣu thế lớn. Quản trị tốt hoạt động logistics giúp doanh nghiệp đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, từ đó gia tăng lợi nhuận một cách đáng kể. Ngành hàng không là một ngành kinh tế đặc thù. Lợi thế cạnh tranh của các đơn vị trong ngành chủ yếu đến từ hai yếu tố quan trọng nhất: chất lƣợng và sự an toàn.
Việc quản trị hoạt động logistics hiệu quả sẽ góp phần giúp gia tăng chất lƣợng phục vụ, vốn đƣợc đòi hỏi ở mức rất cao từ khách hàng, do đó tôi lựa chọn đề tài “Quản trị oạt độn lo st s tạ Côn ty Cổ p ần P ụ vụ mặt đất Sà Gòn – C n án Đà Nẵn ” làm đề tài nghiên cứu của mình. Mụ t êu n ên ứu Đề tài tập trung nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận có liên quan đến hoạt động quản trị hoạt động logistics trong lĩnh vực dịch vụ hàng không. Phân tích thực trạng quản trị hoạt động logistics tại Công ty, từ đó đƣa ra một số giải pháp hoàn thiện công tác quản trị. Đố tƣợn và p ạm v n ên ứu Đối tƣợng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác quản trị hoạt động logistics tại Công ty SAGS Đà Nẵng.
2 Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động sản xuất kinh doanh của SAGS Đà Nẵng nói chung và hoạt động liên quan đến hoạt động logistics nói riêng. P ƣơn p áp n ên ứu Đề tài sử dụng các phƣơng pháp mô tả, thống kê, phân tích dựa trên các số liệu và tình hình thực tế để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu. Phƣơng pháp mô tả: Mô tả hoạt động hiện tại của Công ty. Phƣơng pháp thống kê, phân tích: phân tích tình hình hoạt động của Công ty dựa trên số liệu thực tế từ các phòng ban, từ đó rút ra điểm mạnh và điểm yếu của vấn đề cung ứng hiện tại của công ty.
Bố ụ đề tà Đề tài gồm có 03 phần chính: C ƣơn 1: Cơ sở lý luận về quản trị logistics Nêu lên lý thuyết của các tác giả trong và ngoài nƣớc về hoạt động quản trị logistics. C ƣơn 2: Thực trạng quản trị hoạt động logistics tại Công ty SAGS Đà Nẵng Nêu lên những ƣu, khuyết điểm của hoạt động quản trị logistics mà SAGS Đà Nẵng đang gặp phải. C ƣơn 3: Các giải pháp nâng cao chất lƣợng quản trị hoạt động logistics tại Công ty SAGS Đà Nẵng Dựa vào những ƣu, khuyết điểm đã nêu lên ở Chƣơng 2, tác giả đề ra những giải pháp để phát huy những điểm mạnh cũng nhƣ khắc phục những điểm yếu đang tồn tại trong hoạt động quản trị logistics của SAGS Đà Nẵng. Tổn qu n tà l ệu n ên ứu Để thực hiện nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử dụng các tài liệu, giáo trình về lý thuyết quản trị logistics cũng nhƣ lý thuyết quản trị chuỗi cung ứng của giảng viên Trƣờng Đại học Kinh tế Đà Nẵng và các tác giả bên ngoài, kết 3 hợp với các trang web về kinh tế nói chung và logistics nói riêng.
Do quản trị logistics là một lĩnh vực khá mới tại Việt Nam, hệ thống tài liệu nghiên cứu nhìn chung vẫn còn hạn chế, do đó tác giả tiến hành tham khảo phƣơng pháp nghiên cứu của một số luận văn thạc sĩ cũng nhƣ các luận văn tốt nghiệp đã thực hiện tại các trƣờng đại học trong thời gian qua. Với các thông tin liên quan đến doanh nghiệp - Công ty Cổ phần Phục vụ mặt đất Sài Gòn – Chi nhánh Đà Nẵng, tác giả đã nghiên cứu hệ thống tài liệu, quy trình, sổ tay (manual), hƣớng dẫn công việc dành cho từng đối tƣợng cụ thể đƣợc ban hành trong nội bộ Công ty. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ LOGISTICS 1.1 TỔNG QUAN VỀ LOGISTICS 1. K á n ệm về lo st s “Logistics” là thuật ngữ mới chỉ đƣợc sử dụng trong vài thế kỷ gần đây, nhƣng sự tồn tại của logistics thì đã đồng hành cùng loài ngƣời từ rất lâu kể từ khi con ngƣời biết tích trữ, phân chia, trao đổi, vận chuyển… những vật phẩm mình làm ra [1] Theo Hội đồng kinh tế xã hội Liên hiệp quốc (ECOSOC), quá trình phát triển của logistics những năm gần đây đƣợc chia thành 3 giai đoạn: * Giai đoạn 1: Phân phối vật chất (Physical Distribution): Giai đoạn này bắt đầu từ những năm 60 – 70 của thế kỷ XX.
Vào thời kỳ này ngƣời ta quan tâm đến việc quản lý có hệ thống những hoạt động có liên quan với nhau để đảm bảo hiệu quả việc giao hàng thành phẩm và bán thành phẩm…. cho khách hàng. Đó là những hoạt động vận tải, phân phối, bảo quản hàng hóa, quản lý hàng tồn kho, bao bì, đóng gói… Những hoạt động này gọi là phân phối vật chất. * Giai đoạn 2: Hệ thống logistics (Logistics System): Diễn ra vào thập niên 1980s và 1990s của thế kỷ XX với điểm nổi bật chính là các công ty kết hợp hai mặt: đầu vào (cung ứng vật tƣ) với đầu ra (phân phối sản phẩm), nhằm tiết kiệm chi phí, tăng hiệu quả của quá trình này.
Sự kết hợp này chính là hệ thống logistics. * Giai đoạn 3: Quản trị chuỗi cung ứng (Supply Chain Management): Diễn ra vào những năm cuối của thế kỷ XX cho tới nay. Khái niệm bao trùm mang tính chiến lƣợc là quản trị chuỗi nối tiếp các hoạt động từ ngƣời cung cấp - ngƣời sản xuất và khách hàng tiêu dùng sản phẩm cuối cùng với các giá 5 trị gia tăng nhƣ tạo lập và cung cấp các chứng từ liên quan, hệ thống theo dõi, kiểm tra làm gia tăng giá trị sản phẩm. Dễ dàng nhận thấy khái niệm này sự coi trọng đối tác, phát triển đối tác, kết hợp giữa doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với ngƣời cung ứng khách hàng cũng nhƣ những ngƣời liên quan tới hệ thống quản lý nhƣ các công ty vận tải, kho bãi và những ngƣời cung cấp công nghệ thông tin [2] Có rất nhiều khái niệm khác nhau về logistics trên thế giới và đƣợc xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu về dịch vụ logistics khác nhau, tuy nhiên, có thể nêu một số khái niệm chủ yếu sau: Theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc (UNESCAP), khái niệm “logistics” đƣợc giải thích nhƣ sau: Logistics đƣợc hiểu là việc quản lý dòng chu chuyển và lƣu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng.
Theo Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ (CLM), nay đổi tên thành Hội đồng các nhà quản trị chuỗi cung ứng chuyên nghiệp (The Council of Supply Chain Management Professionals – CSCMP), logistics là một bộ phận của dây chuyền cung ứng tiến hành lập ra kế hoạch, thực hiện và kiểm soát công việc chu chuyển, lƣu kho hàng hóa, xử lý thông tin, cùng với các dịch vụ liên quan từ địa điểm xuất phát đến nơi tiêu dùng một cách hiệu lực, hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Logistics là một quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý việc chu chuyển và lƣu kho có hiệu quả hàng hóa, dịch vụ và các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ vì mục tiêu đáp ứng nhu cầu của khách hàng (Đại học Hàng Hải thế giới - World Maritime University, D. Theo khái niệm của Liên hiệp quốc sử dụng cho khóa đào tạo quốc tế 6 về vận tải đa phƣơng thực và quản trị logistics tổ chức tại Đại Học Ngoại Thƣơng Hà Nội (tháng 10/2002), logistics là hoạt động quản lý quá trình lƣu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lƣu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay ngƣời tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng. Theo Coyle, Bardi & Langley, logistics là phần quá trình của chuỗi cung ứng giữ vai trò lập kế hoạch, triển khai và kiểm soát hiệu quả dòng chảy và việc cất giữ hàng hóa, dịch vụ và các thông tin liên quan từ điểm nguồn tới điểm tiêu thụ với mục tiêu thỏa mãn nhu cầu khách hàng.
Ngoài ra, còn có các cách định nghĩa khác về logistics. Tuy nhiên, qua các khái niệm trên, có thể thấy logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm, đó là quá trình lƣu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tay ngƣời tiêu dùng [3] 1. P ân loạ á oạt độn lo st s Logistics là một khái niệm rộng lớn, bao trùm nhiều lĩnh vực và đƣợc phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Theo phạm vi và mức độ quan trọng - Logistics kinh doanh (Business logistics) là một phần của quá trình chuỗi cung ứng, nhằm hoạch định thực thi và kiểm soát một cách hiệu quả và hiệu lực các dòng vận động và dự trữ sản phẩm, dịch vụ và thông tin có liên quan từ các điểm khởi đầu đến điểm tiêu dùng nhằm thoả mãn những yêu cầu của khách hàng.
- Logistics quân đội (Military logistics) là việc thiết kế và phối hợp các phƣơng diện hỗ trợ và các thiết bị cho các chiến dịch và trận đánh của lực lƣợng quân đội. Đảm bảo sự sẵn sàng, chính xác và hiệu quả cho các hoạt động này. - Logistics sự kiện (Event logistics) là tập hợp các hoạt động, các 7 phƣơng tiện vật chất kỹ thuật và con ngƣời cần thiết để tổ chức, sắp xếp lịch trình, nhằm triển khai các nguồn lực cho một sự kiện đƣợc diễn ra hiệu quả và kết thúc tốt đẹp. - Dịch vụ logistics (Service logistics) bao gồm các hoạt động thu nhận, lập chƣơng trình, và quản trị các điều kiện cơ sở vật chất/ tài sản, con ngƣời, và vật liệu nhằm hỗ trợ và duy trì cho các quá trình dịch vụ hoặc các hoạt động kinh doanh.
Theo vị trí của các bên tham gia - Logistics bên thứ nhất (1PL- First Party Logistics): là hoạt động logistics do ngƣời chủ sở hữu sản phẩm/ hàng hoá tự mình tổ chức và thực hiện để đáp ứng nhu cầu của bản thân doanh nghiệp.